Thứ Hai, 1 tháng 11, 2010

Nhân một lần xem kịch Nỏ Thần

Mấy hôm nay trời Sài Gòn u tối, gió thổi rét, bầu trời như đứng lại, thẫn thờ, mưa không được, nắng không xong. Mỗi lần bước chân ra đường là mỗi lần sợ, sợ cái lạnh đếm được trong từng hơi thở, từng bước chân, sợ cái tiếng còi xe hối hả, sợ ánh mắt cau có đưa đám hằn trên mặt người đi. Bốn bề bờ bụi, lạnh nhưng không sạch, họa chăng chỉ là cái sạch sẽ giả tạo, không thật, không tường.

Có điều, một cái vé kịch đang chờ được xé dùng dằng mãi trong túi, và rõ ràng là nỗi sợ hãi đấy phải nhường chỗ cho sự hiếu kỳ, sự háo hức để được nếm trải một vở kịch mà nghe đồn được giải Nhất chi mô đó, vở kịch thứ 3 (hay 2 nhỉ) trong đời một đứa trẻ chưa tròn 17 tuổi.

‘Nỏ thần’ là cái tên của nó, sân khấu không quá lớn, nhưng chẳng đến nỗi bít bùng, và hiển nhiên là sự nghiêm trang vẫn tồn đọng lại trên từng chiếc ghế, không bọc nhung lụa chi cả, nhưng êm đến sướng cả người, cả óc, cả mông. Ngồi trên lầu, máy lạnh không mò đến được. Chúi cả người xuống dưới mới thấy rõ. Nhưng chả sao, có lẽ cái phiền phức nhứt có lẽ là con người – khán giả, với những tiếng nói chuyện ồn ào đến kinh sợ, những lời văng tục bạt mạng, những lời bình luận nhăng nhít nhảm nhí cứ văng vẳng bên tai, bịt mãi – chẳng lẽ con người phải nói nhiều đến thế khi ngồi với đám đông ? Không sao dõi tâm theo được, và có lẽ đã phải bỏ qua đôi ba chi tiết nhỏ, cực chẳng đã, đành chịu.

Nhớ đến lúc hồi đầu Hè, ở Hà Nội, vào Lespace thưởng thức điện ảnh chui vì vé chỉ có hai mà người thì tới ba, khỏi cần năng nỉ, chỉ một câu thảo mai nào đó cũng đủ để chiếm lấy một chỗ ngồi bên trong phòng chiếu. Khi đó, lạnh, lục đục chi mô những tiếng cười, xầm xì phía sau, đằng trước, những lời nói nhăng nhít nhảm nhí lại vang lên, và khó chịu. Có lẽ chỉ vì ‘Trăng nơi đáy giếng’ không phải là một phim để người ta ra rạp cùng với gia đình bạn bè bù khú mà nhâm nhi bắp rang - cười nói cho đã đời cái mỏ, cho no tròn con mắt. Đó là một phim mà theo tôi là rất cá nhân, rất điên, rất chậm, và đòi hỏi khán giả phải biến hóa theo nó, theo từng nhịp đóng – mở cửa (những tiếng cười to nhất là ở đây), theo từng sự biến chuyển tâm lý dù là nhỏ nhất trong nhân vật Hạnh, theo từng chuyển động máy khó chịu, quái chiêu, theo từng câu hát, từng cảnh một với sự dàn dựng đầy ngụ ý – mỉa mai mang nhiều hàm ý chính trị, theo từng nổi đau và hành trình tâm linh của Hạnh đến những giá trị ảo tưởng hiện diện xóa nhòa những giá trị thật đã bị đánh mất. Và, cả cái chất Huế lãng đãng đâu đó mà chẳng cần ngoại cảnh lắm điều tôn vinh. Mọi thứ hiện diện tinh tế, đẹp và buồn. Nguyễn Vinh Sơn (nhớ chăng bộ phim Đất phương nam) là đạo diễn.

Đấy là về Điện ảnh, với những thú vui nhỏ nhặt được tích góp qua những kinh nghiệm, những nếm trải qua nhiều lần thưởng thức, nhiều lần bị hút chặt vào nó, nhiều lần không thể nào cưỡng ra được. Ngọt có, bùi có, nhưng đó là một thế giới bao la, rộng lớn, và ảo diệu cực kỳ. Có điều, chúng đến với ta qua khoảng ngăn màn ảnh. Sự chung đụng chỉ có lẽ nằm ở bên trong, cảm xúc.

Thích nhất ở Sân khấu, là cái khoảng cách giữa người nghệ sĩ và khán giả nay gần hơn bao giờ hết, tưởng chừng có thể đụng lấy, có thể nhào đến ôm lấy tác phẩm, nơi những nhân vật hiện diện trong một bộ cánh mỏng manh, tay họ run run đón nhận những tình cảm, những tiếng vỗ tay vang vọng từ khán đài – hay có khi là những tiếng bĩu môi, la ó khó chịu. Tôi nghĩ, họ có phần dũng cảm khi dám đứng trên sân khấu, trình diễn tấn kịch của thiên hạ, hay có lẽ là của đời mình, không run sợ, chỉ bỏ hết sức lực, tấm thân, tấm lòng vào vai diễn. Đấy phải chăng là một sự dấn thân ?

Lại nói về vở kịch hôm nay, Nỏ thần. Một câu chuyện cũ kỹ được làm mới, được sân khấu hóa lên với những thêm thắt, những chỉnh đổi, bổ sung, nhằm tạo nên một lớp truyện mới dầy hơn, đậm hơn, sâu sắc hơn so với nguyên tác đã quá quen thuộc. Những vấn đề, những câu hỏi tràn đầy trong tâm trí khán giả. Liệu nó có đơn thuần chỉ là một sự đấu tranh thiện ác, hay sự đánh thức tham vọng chiếm hữu bên trong mỗi con người, hay những thứ chân lý, những hiện hữu nhập nhằng giữa thực và giả, giữa tình yêu và lý trí, giữa con người và con người, giữa bề trái và bề mặt, giữa nỗi đau cá nhân và nỗi đau nhân loại. Một bi kịch về con người.

Chúng ta phải đóng khố cho cẩn thận (kẻo tuột) khi giao tranh chiến trường. Nhưng còn chính chúng ta thì sao, có cần phải đóng khố cả tư tưởng, cả đầu óc, cả những ám ảnh vang vọng trong chúng ta. Vàng thật, cái tâm con người, vàng giả, những thỏi vàng lấp lánh ẩn mình trong túi áo.

Lẽ dĩ nhiên, cái bi kịch, cái mâu thuẫn được tạo ra và giải quyết như trong nguyên tác, với một kết thúc đầy tính bi tráng, cái chết kéo đến, ai cũng vơ lấy, đó là đất nước, đó là thứ tình yêu có lẽ quá đẹp đến nỗi huyễn hoặc và bị chìm dưới biển sâu, nơi bóng tối tràn đầy. Đất nước chìm trong máu. Nhưng, chính nỗi đau lại đó làm chúng ta phải nhớ, phải khắc sâu vào trong tim, đó không chỉ là hành trình tìm lấy cái tôi chân chính không hằn dục vọng - ám ảnh, hay hành trình cứu rỗi nỗi đau của nhân loại, mà còn là hành trình cứu lấy đất nước, giữ lấy non sông, nơi đó còn ánh mãi những ánh mặt trời, những giọt máu khô, những con người nước Nam bất khuất, khi chết vẫn đứng oai hùng.

Tiết tấu nhanh, kịch tính, xung đột hiện diện ngay trong từng lớp cảnh, xen lẫn là những cảnh yêu đương, khi nhẹ bẫng trong suốt, khi mâu thuẫn cao trào. Sự tĩnh lược tạo ra một khoảng cách khá xa trong nhịp độ câu chuyện. Vở kịch chia làm hai phần, khi mà sự tĩnh lược ấy tạo ra ở phần 1 một chút gì đó chắt lọc, lắng đọng, nâng tiết tấu nhanh hơn, hấp dẫn khán giả hơn thì ở phần 2, mọi thứ có vẻ hơi đuối, sự lộn xộn và hơi ẩu tạo ra những mảnh cảm xúc không rõ ràng, có phần chấp vá. Nhịp điệu bị đánh mất. Cùng với việc xuất hiện rất nhiều nhân vật cùng với tham vọng cá nhân hóa họ quá cao, khiến cho đất diễn không đồng đều, dễ nhớ mà cũng dễ quên. Tạo nên cái loãng, cái hẫng hụt khó chịu cho khán giả.

Nói về Dàn Dựng. Rõ ràng là đạo diễn đã khá chắc tay trong từng cảnh. Bố cục được phân bố theo tôi là làm hai loại : cân bằng – đối xứng và phi cân bằng – không đối xứng, được thấy qua những hành động, những diễn biến và chỗ đứng của nhân vật trong sân khấu hay là từ đạo cụ bày ra trên sàn diễn. Muốn hiểu rõ tác dụng thì ta phải lắng theo câu chuyện, với mâu thuẫn bên ngoài chủ yếu là giữa Thục Phán – nuớc Nam và Triệu Đà – xứ Bắc. Cân bằng một cách hết mực chỉn chu là trong những cảnh về nuớc Nam, biểu trưng cho một sức mạnh can trường, ngay thẳng. Phi cân bằng là những cảnh hiện diện xứ Bắc, những quốc sư hay quân lính Triệu Đà, thể hiện một sự gian trá, không ngay thẳng, tréo nghoe trong tâm, dùng những thủ đoạn đê tiện để chiếm hữu lấy nước Nam.

Khung cảnh được bày bố đơn giản, với những chiếc cầu thang xoắn vòng cung, đơn giản, đối xứng nhưng điều đó khiến sự tùy biến trở nên dễ dàng, và sự đa dạng là điều dễ dàng trông thấy. Khung cảnh là một công cụ tuyệt vời đồng bộ với câu chuyện, từ chiếc bóng nỏ thẩn thấm thoáng sau tấm màn nhung – sự bí mật cho đến cảnh sóng biển ào ạt – tâm người lay động.

Cái theo tôi là hay nhất trong vở kịch chính là cách sử dụng màu sắc. Màu sắc trong ánh sáng, và rõ ràng hơn là màu sắc trong phục trang nhân vật. Đấy là màu đỏ, thứ màu sắc mạnh mẽ, bạo liệt, vận vào lớp cảnh của Triệu Đà, của lão Quốc sư gian ác, của những tham vọng, mưu mô xấu xa thâm độc. Nó cũng được dùng để che dấu bí mật, bên trong tấm màn chứa nỏ thần, và tham vọng của lão Quốc sư để chiếm đoạt nó. Cảnh này rất hay, rất tuyệt, ánh sáng khi đó tắt dần cho đến khi cả sân khấu chỉ còn ánh đèn đỏ phía sau tấm màn in bóng nỏ, và màu đỏ trên phục trang của lão Quốc sư càng gần đến cái bí mật đó. Hồi hộp lắm cơ. Hiệu ứng thị giác mạnh mẽ cùng tiết tấu nhanh khiến cho cảnh đấy rất đắt. Đỏ cũng là màu của máu, của sa trường, của giấc mơ chiếm trọn bờ cõi nước Nam từ phía xứ Bắc. Và có lẽ cũng chẳng ai quên được lần đầu Triệu Đà xuất hiện, với tấm nhung đỏ lòm được đặt xiên đặt chéo, bản thân nó cũng mang nhiều hàm ý.

Màu vàng của Thục Phán, của những chàng trai xứ Nam, của dân tộc ta, của rồng vàng, của thần Kim Quy, của sự chân chính, của lẽ phải. Hay có lẽ đó là thứ vàng thật trong tâm đang bị lu mờ bởi thứ vàng vật chất giả tạo từ nơi Triệu Đà đấy sao ?

Màu trắng của sự tinh khiết, cùa sự trong trắng từ bên trong tâm hồn. Màu trắng hiện diện trong tấm áo choàng lông ngỗng Mỵ Chân vận, hay tấm áo của cô nàng công chúa xứ Bắc.

Và có cần phải tinh ý không mới thấy rằng, trang phục mà Mỵ Châu đang vận là sự hòa hợp giữa vàng, trắng và đỏ. Vàng – đỏ có lẽ là chỉ lên một thứ cầu nối giữa hai bề, Bắc Nam. Trắng, là sự tinh khiết, sáng trong.

Màu bạc lạnh lẽo, u mê.

Màu xanh tràn đầy trong những cảnh tình yêu. Là sự khát khao, sự hi vọng hòa hợp giữa hai ngã Bắc Nam, giữa hai thái cực trong tâm hồn, giữa mối tình của đôi lứa. Đấy là một thứ tình yêu của tuổi trẻ trong sáng, nơi chân trời chỉ tồn tại những giấc mơ, những cánh hạc vừa bay vừa kêu thảng thốt cho một mối tình buồn. Và sự giả dối có hiện diện nơi đây ? Giữa những thứ tình cảm ấy ?

Màu nâu đất bình dân, chất phác, đậm đà tính dân tộc nông nghiệp chính yếu.

Hết phần màu sắc, lại nói về ánh sáng. Đấy là một thứ tinh tế, sự tối giản được sử dụng khá nhuần nhuyễn tạo ra những đoạn chỉ còn hằn lại vết bóng nhân vật, sự kết hợp với những gam màu, tăng nhịp điệu, đẩy nhanh tiết tấu, tạo cảm xúc, gây ra những ấn tượng mạnh về mặt thị giác. Còn phải kể đến hiệu quả của âm nhạc, vốn được dùng để tạo tiết tấu. Sự đồng phối vị của nó với các hiệu ứng khác gia tăng hiệu quả chính là tạo cảm xúc cho khán giả.

Dĩ nhiên, trong Sân khấu, con người là quan trọng hơn cả. Diễn xuất tốt đấy, nhưng ấn tượng thì chỉ có một, là lão Quốc sư. Có lẽ như tôi đã nói, nhiều nhân vật xuất hiện cùng với tham vọng cá nhân hóa họ quá cao, khiến cho đất diễn không đồng đều, dễ nhớ mà cũng dễ quên. Cá tính rõ ràng, nhưng không được đẩy mạnh đến tột cùng, mà chỉ là những nét nhỏ nhắn, chưa là tinh tế, chỉ có thế nói là mang tính điểm xuyến nhiều hơn là lột tả.

Có lẽ chẳng cần những sự sắp đặt giả tạo tặng hoa cám ơn gì gì đó ở cuối CT cũng có thể biết rằng, vở kịch thành công trong lòng khán giả, và tuy vẫn còn đó những hạn chế nho nhỏ, nhưng với một đứa trẻ sống chưa tròn 17 năm cuộc đời, thì ‘Nỏ thần’ xứng đáng được lưu trữ đâu đó trong cái trí nhớ nhỏ bé và hữu hạn này.

Chủ Nhật, 31 tháng 10, 2010

For Q

Tôi gặp Q lần đầu ở Lít, trong một đêm trắng vĩ đại, dưới một màn chiếu cộng thêm một chiếc máy quay đĩa cũng vĩ đại không kém. Hôm đó chuyên đề điện ảnh tối thứ 6 – xem phim và bình phim, Rashomon của Kurosawa là tác phẩm mở đầu trong tháng, anh hì hục quanh cái laptop và loay hoay tìm kiếm một cái phụ đề thích hợp cho một phim Nhật thuyết minh tiếng Pháp. Rất lâu sau đó anh mới thành công, phũ phàng khi chấp nhận xem sub Anh, không sao, chả mống nào hiện hữu nơi đó giờ này ngoài những người quen thân thuộc, một vẻ gì đó khổ sở nhưng không buông thả hằn lên gương mặt anh. Tôi phải công nhận, ấn tượng đầu đó không hề đẹp, chỉ là một anh chàng gầy còm, tinh ranh, nhưng không rành rọt vi tính và công nghệ chi cả...

Phim cuối cùng cũng trót lọt, không có tiết mục bình phim, lặng lẽ ra về, tôi thấy anh cười, một nụ cười đểu giả, một nụ cười của những tên sở khanh, một nụ cười mà sau này nghe anh nói ‘vì nó mà tôi đã mất vài người bạn.’ Im lặng chờ Pip chở về, họ bàn bạc điều chi không biết. Quán đóng cửa. Đã hơn 10 giờ tối. Xe cộ chạy dữ. Gió thổi ngược.

Lần thứ hai là khi Lít chiếu The Hole của Thái Minh Lượng, một phim chậm rãi đến kinh sợ, một phim không có khán giả. Tồn đọng đây đó những tiếng thở dài rũ rượi và ngáp vặt liên hồi. Anh, rút mình vào trong một chiếc sôfa bành ki, một mình một cõi, chính diện màn ảnh rộng. Nhiều người không chịu nổi phim lần lượt ra về với một câu hỏi dạng trêu ngơi : “Ở đây chỉ chiếu những phim kiểu này thôi hử anh ?” . Tôi đồ rằng ‘sẽ không ai cười’.

Hết phim. Rất lâu sau đó đèn mới bật sáng, lác đác tiếng vỗ tay. Anh quay mình lại, vẫn với nụ cười đểu ấy, nay cộng thêm ánh mắt láo liên láo toét, hỏi hang khán giả với một thái độ ‘Đấy, tụi mày xem xong rồi đấy, nói cảm nghĩ đi’. Tôi ngồi im. Chie và Pip và một hai người khác lên tiếng. Rồi, anh nói một tràng, một tràng rất dài về ý nghĩa về subtext về âm nhạc này này nọ nọ, khiếp, tôi nghĩ bụng, thằng cha này xem được bao phim của Thái Minh Lượng rồi mà phán như thánh, cứ phong cách tác giả nì phong cách tác giả kia. Ghét thế không biết. Ấn tượng thứ hai là một kẻ vẫn tinh ranh nay còn thêm ba hoa khoác lác.

Đèo Chie về, chị nói, tại sao người ta cứ hay gán ghép ý nghĩa này nọ vào trong một tác phẩm, làm sao ta biết được, có lẽ họ chỉ thấy thích thú khi chơi đùa với nó đấy thôi. Ừ, cũng đúng nhỉ, nhưng không có sự gán ghép suy diễn đó thì làm sao có được một thứ thú vui tao nhã là bình phim kia chứ. Đúng hay sai, ai cần biết ? Ai chấm điểm tồi cho một ý tưởng lạ lẫm nào đó đâu, nếu có sự dẫn giải hợp tình hợp lý, chẳng cũng khoái ru ?

Lần thứ ba gặp Q là khi tôi rủ rê anh đi xem Chơi vơi ở BHD. Hết vé, thế là anh lại rủ rê mình ra Nhà Hát Thành Phố uống cafe. Bâng quơ sao đó mà một chai rượu nếp Hà Nội chiễm chệ thay thế hai cốc cafe đá trên chiếc ghế nhựa. Chưa say nhưng đã có những giờ phút nói chuyện thú vị. Anh không chán như tôi tưởng. Tôi biết anh sẽ là sinh viên năm cuối ĐH SKĐA TPHCM trong vài tháng kế tiếp.

Nhiều lần lêu bêu với anh sau đó, tôi biết rõ về anh hơn. Như một kẻ cuồng vĩ, một kẻ say mê triết học hiện sinh, một kẻ thích nói về ý nghĩa cuộc đời với giọng điệu chán ghét và phi lý, một kẻ có thể thao thao bất tận về Albert Camus với người hùng Sisyphus đẩy tảng đá lăn tròn lên đỉnh và sau đó lại rơi xuống, một kẻ triết lý cao siêu mang tầm vĩ mô vi mô đủ cả, một kẻ thích thú với những bộ phim phức tạp tầng tầng lớp lớp nghĩa của Bergman, những văn phạm điện ảnh trong Kurosawa và những tìm tòi đậm đặc chất thơ trong phim của Tarkovsky. Và là một kẻ ghét phim Vương Gia Vệ.

Anh đã từng nói, “Tôi sẽ chết khi tôi 35 tuổi.”

Anh đã từng nói, “Thế hệ già nua của những đạo diễn ‘gạo cội’ như NVS, như ĐNM đã phải chấm dứt. Bây giờ, những đạo diễn trẻ lên ngôi.”

Anh đã từng nói, “Điện ảnh Việt Nam vốn dĩ là một miếng thịt nửa nạc nữa mỡ, và khi phần nạc bắt đầu đung đầy, thì người ta như những con ruồi đu bám vào đó, tung hê thấu mây xanh mà quên rằng chúng ta chỉ mới bắt đầu, còn những chân trời khác xa xăm ngoài kia nữa đấy sao ?”

Đúng thế, còn những chân trời khác đó, ai bay ?

Một bộ phim như một con thuyền đu đưa ra khơi, chỉ bám vào những hòn đảo nhỏ, và lại nhờ sóng biển đẩy đưa tìm kiếm sự kêu gào của những con người xa xăm nhìn ngắm, có cần chi đích đến, có cần chi ảo tưởng, chỉ là một hành trình đi tìm lấy cội nguồn của chính mình. Chẳng cũng khoái ru ?

Trong một quán cafe ở gần đài truyền hình, trời lâm râm mưa, trước khi bưng vác cứu trợ đồng bào miền Trung, anh đưa tôi đĩa phim ‘Căn phòng’ , được Hội Điện Ảnh tài trợ, được trang trọng liệt kê một góc báo Tuổi trẻ như những cái tên đạo diễn trẻ sáng giá hiện nay.

Tấm bìa đen thui, không ấn tượng. Tôi hỏi , “Phim ma à ?” . Anh tủm tỉm.

Đến hôm nay mới có dịp thưởng thức trọn vẹn một phim dài gần 30 phút này.

Phim chật hẹp, không phải chỉ là trong bối cảnh, mà chật hẹp trong cả nhân vật. Một lão già có vẻ liệt giường, một cô gái có vẻ là một người hầu việc. Cô gái chăm sóc lão già, trong sự ân cần quá độ. Hai nhân vật rụt rè với nhau. Cô gái đọc thơ và những cuốc sách chất đầy trên giá cho lão già nghe. Đêm về, lôi cuốn nhật ký khi xưa của ông ra đọc. Cô tìm được sự đồng cảm nơi đó.

Quá khứ đã bay mất, đã quá độ, cũng như một cuộc sống của ông lão khi đó chỉ dựa vào bên trong một giấc mơ in màu đen trắng, với một vùng biển trời mênh mông, nơi ông lão tha hồ cựa quậy, tha hồ bơi tung tóe. Và rồi ông lại mở mắt, khi giấc mơ đã cạn. Cô gái cũng chìm mình vào trong những suy tư về quá khứ, nơi người chồng đã chết, hoặc có lẽ đang in dấu chân vào những vết nhan tàn của đời cô.

Hai người, tìm kiếm và hòa mình trong những nỗi lòng của riêng họ, với tâm cảm rằng cuộc đời là một thứ gì đó đã chết, và họ khát khao được sống trở lại bên trong mình.

Họ cô đơn, hẳng thế rồi. Họ là những con chim bay lạc vào mảnh vườn của riêng mình, bị giam cầm nơi thế giới đã quên đi họ.

Cuộc đời này là một chuyến đi qua biển

và chúng ta gặp nhau trong một chiếc thuyền con

khi chết là chúng ta đến bến

và mỗi người đi về nơi thế giới của mình.

-Tagore

Cô gái và ông lão gặp nhau trên một chiếc thuyền con, được hóa thân thành một căn phòng nhỏ nhắn treo một bức tranh nhỏ nhắn, với một chiếc ghế nhỏ nhắn cùng một lọ thuốc nhỏ nhắn, với những quyển sách và những bài thơ nhỏ nhắn. Đấy là thế giới của riêng họ.

Chúng ta có thể hiểu rằng, họ đã chết và họ muốn được sống.

Day dứt được dồn tụ lại trong cái giá sách đầy rẫy sự ẩn nấp của ông lão bên trong đó.

Vì thế, ông đã muốn đốt cháy mọi thứ.

Qúy muốn cho ta chìm dòng vào những suy tư của riêng anh, của riêng cuộc sống có là gì ngoài biển cạn, và ý nghĩa của nó chỉ vô tình trùng với sự mâu thuẫn của riêng anh, sinh ra để chết, nhưng họ lại muốn sống. Sự cô đơn đồng nghĩa với việc dãy nãy và u uẩn trong chốn của riêng mình.

Để hai tâm hồn đến gần nhau. Những cú quay cận bàn tay, tai, bàn chân, như một biện pháp tinh tế, tĩnh lặng nói lên tâm hồn hai nhân vật. Họ xa nhau lúc đầu kể cả trong ánh mắt, nhưng cuối cùng, sự đối diện với nhau (cô gái nhìn thẳng vào chúng ta đấy sao) gợi lên cho chúng ta một chút hi vọng dù xa xăm, rồi con người sẽ chẳng bao giờ chết cả nếu chúng ta còn nương tựa vào nhau mà bừng lên sự sống, có thể chăng. Quá khứ của cô gái đã đồng diện với hiện tại những đoạn cuối phim, và sau nữa, khi đó, ông lão muốn châm lên ngọn lửa đốt cháy đống sách của mình. Và Q tĩnh lược, anh quay nhào đến cái kết như một sự tréo nghoe, một vòng lặp vô tận cho những con người vô tận. Sống sót, là đi qua biển.

Máy quay bập bềnh như sóng, đôi lúc chuyển động thừa thãi, khoe khoang những khi góc máy lạ, phơi bày sự diễn khi đổi nét búa xua. Màu đẹp và tươi rói. Âm nhạc giúp câu chuyện thêm phần khó hiểu nhưng rất tình, rất thú, bắt đúng cảm xúc. Nó khoan thai như một điệu hò. Tiết tấu chả có gì ngoài một bài thơ, tuy chưa hoàn chỉnh vì đôi lúc lỡ nhịp. Vài cảnh mờ chồng hơi chán. Nhưng như tôi nói, những cảnh cận rất lí thú và tinh tế. Âu đó cũng là một thành công.

Hết phim. Tôi biết, anh đã quyết định bỏ hẳn năm cuối ở trường, dấn thân, lên đường, vì đi tìm một thứ điện ảnh đích thực.

Tôi không biết anh có thành công hay không ? Chả ai biết cả. Giờ anh đã 20, và còn 15 năm nữa trước khi anh chấm dứt cuộc đời.

Chẳng qua là một thứ cảm xúc nhăng nhố đang chất chồng trong đầu anh thôi, Q nhỉ ?

For Q, một đạo diễn tuổi 20, yêu dấu .

Thứ Hai, 25 tháng 10, 2010

25/10/2010

Mưa, nghe nói triều cường dâng cao. Nghe hết đống OST của Vương Gia Vệ. He he. Vui thế không biết.


Tôi chẳng nhớ ai cả.
cho xin một vé, họ nói
hết rồi, còn đâu.

Chủ Nhật, 24 tháng 10, 2010

xổ

Bật khóc
trong im lặng
giả dối tràn đầy
chẳng có gì ngoài lũ ruồi
bu bụi bặm bụi bặm
đường phố thấm tim đen
không màu
tim buồn
còn đường phố vốn dĩ buồn
lờ mờ
mờ mịt
mù
không lạnh
một mùa duy nhất
duy tâm
.

nơi đó anh hôn em
sờ hơn soạng
và em đỏ môi
đen lưỡi
tròn cục đất
ngả vàng
.

nơi đó anh ngồi trắng
trời và đất
nhìn chân mây
nhìn cờ đổ rạp
nhìn quanh buồn
tanh mùi máu
.


nơi đó anh dòm mình ửng hồng
trong chiếc vô tuyến
ngập mùi đất
mùi than
mùi bụi
những thứ giả dối
vô tâm
.

liệu anh còn đang sống ?
vô tình hay đã quên mình đã chết
đang chết
.

bụi trắng chân trời
.

anh ngồi hát thầm một bài ca của My Dying Bride,
nơi đó, họ đã chết, trong những con chim quên cất tiếng hát, nơi dòng sông vô danh chìm lấp trái tim người.
và anh hát thế, trong say đắm loài người họ quên bản thân mình, trong hiện thực vô danh và đen đũi, trũi, lặng, mùi bụi đường cho thấm da thấm thịt, ngấn thịt đỏ hồng,
chìm trong lò vi sóng, tiếng kêu thét gào của nhà hàng xóm, và chiếc xích lô quay cuồng.
đêm trắng vĩ đại giữa ánh đèn Sài Gòn điếc, mưa Sài Gòn câm, và anh thì không còn giác quan nào nữa, phố xá vắng tên ai đó
không rõ. không cần rõ. chẳng cần hay. mây không ló dạng, vì trăng đã lên, mù người.
Chim xổ lồng.

Thứ Năm, 14 tháng 10, 2010

Lilac Wine

Có một năm anh chàng ấy dìm mình dưới đáy sông. Cả hai cha con đều chết trẻ, cái nỗi khốn cùng ấy bồi đấp cho cuộc đời những kẻ suy nhượt vì tài năng của chính mình.

Anh nghiện rượu, cái cơn say mèm trong men đẩy đưa trong những nỗi ám ảnh về chính bản thân mình. Anh rũ xuống mái tóc, trong cặp cánh thiên thần bên một bức tường xám, ảm đạm, ẩn dật.

Tôi đánh mất mình trong một đêm lạnh, ướt hơi men.
Tôi rũ bỏ mình trong một ánh sáng mờ, đèn sương phủ.

Và anh vẫn thế.
Nghìn đời sau vẫn thế.

Ai có lý, và ai có lực ?

Thứ Tư, 13 tháng 10, 2010

Thứ Sáu, 24 tháng 9, 2010

Nghỉ một ngày

Đam mê, hay sự xa la.

Sáng dậy sớm chờ cuộc điện của Quý, chả thấy làm hài lòng khi nghe lấy cái giọng lè nhè chưa kịp thức của hắn ta. Tắm rửa, đi chợ - thấy người ta đang đốt một con rắn to tướng giữa đường, ăn uống, rồi đợi chờ. Thời gian cứ trôi mãi đến 8 giờ, tôi hỏi, không sợ trễ à.

Tôi đi học chùa mà ca cẩm lắm lời quá mức. Nắng đã lên. Đích đến : ĐHSKDA TPHCM, trên chiếc xe máy cà tàng của Quý, đội mũ bảo hiểu đỏ au, lắng nghe gió hát.

Uhm, thế mà hắn chạy cũng nhanh ra phết. Lòng vòng lòng vèo ra đến Cống Quỳnh, một tòa cao ốc ngự trị, mang danh một trường nghệ thuật, nhưng trơ trọi, hiện đại vô ngần, và buồn tẻ.

À, gặp Nguyễn Vinh Sơn, nhỏ bé, nhỏ nhẹ, tóc bạc râm, với đôi mắt luôn khép nhỏ, ít khi chớp. Thầy không đồ sộ hoành tráng như tôi đã nghĩ. Thầy giảng bài đều đặn, khó có thể nói là có sức mạnh, nhưng tâm huyết thì hẳng là có. Thầy có lẽ dể quen, nhưng khó gần và có lẽ khó đoán nữa. Có một cái bức tường ngăn cách giữa cái giọng nói nhỏ nhẹ ấy, ánh mắt ấy, dáng người đi lom khom ấy - đối với cái thế giới bên ngoài. Một vẻ cô độc cố hữu của người nghệ sĩ, khó ai lường được. Thầy thỉnh thoảng nhìn ra hư vô đâu đó để suy nghĩ, rồi chợt quên mất cái mà mình vừa giảng, rồi cười, cười như một đứa trẻ vừa vớ được món đồ chơi yêu thích.

Phòng bên cạnh, ông nhà báo Tô Hoàng oang oang nói, chiếu cho học sinh của mình xem một vài bộ phim tài liệu nào đấy. Ồn ào. Âm ỉ.

Trưa nắng. Vào căn tin trường uống nước, hai cốc cafe sữa đá to tổ bố hiện ra trong chốc lát. Nhấm nháp cùng vị Mal Đỏ nhạt nhòa. Chưa cảm thấy buồn nôn cho lắm.

Lâu lắm mới có một ngày nghĩ, giữa những ngày lắm điều và lộn xộn này.

23-9-2010

Thứ Tư, 22 tháng 9, 2010

Chie - chị

Nghe Velvet Underground vào một buổi chiều thẳng đứng, mùa thu - nắng nóng vô cùng. Đáng nhẽ ra là phải nghe Forever Autumn để đón lá vàng vào lòng, nhưng thiết nghĩ, lúc này nó sẽ càng làm mình thêm khó chịu. Thôi dầm dề với Lou Reed rồi Cat Power vậy.


Hôm đó đang ngồi với bác Goldmund, chị nhắn, Mưa trắng xóa, chị đi. Ừ thì chị đi. Mình nhắn lại. Cho em gửi lời thăm Hà Nội.

Hôm đó mưa quả dữ thiệt. Kẹt xe, phải lách lề mới đến nhà.


Mình nhớ lần đầu gặp chị, Hà Nội đầu tháng 6, ừ thì đó là ngày áp áp chót của cái hành trình dài dòng của mình. Dương cà rù cà rù phơi quần áo, rồi lèm bèm, ừ thì Chie hẹn đi cafe đâu đó. Hắn nhăng nhít một hồi. Ừ thì đi. Có cả chị Silk. Đó là một cái hồ lớn, trong long lanh, những cái tháp, cao ốc nhọn vít xa xa, lan bóng xuống hồ. Gió thổi mát. Chửi thề vì dẫm phải vũng bùn chèm nhẹp. Dương có vẻ xót ruột vì đống cước taxi phải trả. Hai người, bắt hai cái ghế nhựa đỏ lòm, kêu nước, và chờ.

Vẫn biết danh Chie qua những trang vụn vặt của 'tiểu thuyết nhăng nhít', nhưng không ngờ đến một Chie nhỏ nhắn đến vậy. Cô nàng có một gương mặt thanh tú, cặp chân mày mỏng manh như lụa và làn da bánh mật dễ gây sự chú ý từ xung quanh. Một người đi nhiều, biết nhiều, mạnh mẽ nhưng có lẽ cũng giòn tan, như những chiếc bánh gạo. Lạo xạo.

Mình không nói gì nhiều. Gió vẫn thổi. Và khói thuốc cứ bay, bay. Silk hút Esse. Chie không đụng đến.

Hôm sau, Chie và Silk rủ nhau đến căn trọ tồi tàn của Dương. Chiều tàn, nắng không len nổi ánh sáng vào trong. Sau một ngày quá mệt, mình và Dương ngoan ngoãn ngồi chờ món cơm gia đình được dọn ra. Cười đùa. Giỡn hớt. Tối ngồi bệt ở quán Trầm Thiền chi đó ở tuốt trong cái hẻm sâu gần trường SKDA HN. Không biết trời xui đất khiến ra sao mà khi đó ca sĩ toàn hát những bài có cái tên 'cuối'. Cuối. Cuối. Cuối. Làm mình buồn thúi ruột. Ngồi gần dàn nhạc sống thật thú vị, nghe rõ từng chi tiết một, này thì nhịp, này thì ót ét guitar, này thì thở dài. Ngồi đến tận hơn 10 giờ, có lẽ hơn. Nhấm nháp chai rượu tự pha chế của hai cô nàng, gật đầu khen ngon lia lịa. Vui biết mấy.

Hôm sau, mình về Sài Gòn.


Rất rất lâu sau đó, Chie đặt chân đến Sài Gòn. Đầu tháng Bảy, rồi sau đó nửa tháng, chị gọi mình. Đèo chị cực nhọc đến Sỏi đá. Và một entry mới ra đời. Rồi nhiều lần đèo chị nữa. Chân tay mỏi nhòa trong nắng.

Và rồi đầu tháng 9, chị nhắn tin, chị sắp ra Hà Nội. Vào một buổi chiều, mưa trắng xóa, trong khi mình ngồi với bác Goldmund, chị bay, giã từ Sài Gòn.

Hẹn ngày gặp lại.


Nghe Cat Power mà nhớ, nhớ lấy những thời kì mình không được trải qua. Lạ thật. Những thời kì Jazz hay Blues vang vọng khắp các quán xá, cổ kính, xập xệ. Mình liên tưởng đến một nơi đầy ánh đèn xanh xao, vàng vọt, chớp tắt liên hồi, người ta thổi saxophone, đập bass, và với những âm thanh riêng biệt, giọng hát cất lên, rồi đi vào hư vô, nơi nỗi nhớ ngự trị.

Thứ Tư, 15 tháng 9, 2010

vô tri

Tôi yêu những đêm không màu
Mắt trắng
vô tri trắng
buồn nôn trắng
Xà lang trắng
Lan can tắng
bút trắng
mực trắng
viết lên hiệu hữu trắng.

Tôi yêu mắt đèn mù
Nhìn mù
Yêu mù
Sống mù
Chết mù
Vui mù
Buồn mù
Cô đơn mù
Nhắm mắt mù
Mù từ buồng tim máu thịt.
Mù từ thăng thẳm nơi sâu.

Chẳng có cửa sổ nào mở
Mưa biến màu
Không thấy cầu vòng rơi
Chim hót tiếng câm
Người nói tiếng lặng
Im biền biệt.

Đen còn ? hiện hữu trắng. vâng vâng mù. Nhìn đời bịt. Sóng còn bạc, né người mù. Cát hồn nhiên, né người điên.

Tôi yêu những vùng trời đỏ màu máu, không nhờ mặt trời, không nhờ tinh tú , không nhờ sao băng hay chiến tranh lạnh giá. Chỉ cần chấm dứt. Cõi cỏ lau bờ bụi.

Tôi yêu tôi, vốn trắng, đen, mù và lặng.

Thứ Ba, 14 tháng 9, 2010

Cháy

Cấp cứu!
Cấp cứu!
Ô tô chẹt lá chết…
Một cặp đi ngang đường bẹt
Hãy để tôi đi tìm đêm trăng vườn quýt!
Điện thoại kêu thét
Con cốc đi xa
Chương ba tiểu thuyết
Hành trình!…
Hành trình!…
Không thấy sương bay thành vệt…

-Trần Dần-



8h tối. Phực. Cúp điện. Người ta la ó, cháy, cháy. Tôi giậc bắn mình, còn trong chân đôi vớ, xỏ vào đôi dép đứt quai rồi phi thân ra đường. Hiện trường hiện hữu : 2 chiếc xe cứu thương đỏ lòm - một chớp đèn đỏ, một chớp đèn trắng, nhấp nhô ; rất đông bà con dân chúng bu lại, những người dưng hiếu kì nhanh nhảu dựng xe bên lề đường, bay vào nghe ngóng.

Cháy, cháy, cháy, sự đáng sợ của lửa đã được chứng minh từ ngàn năm lâu dài. Nhưng, liệu phim ảnh sách báo văn hóa phẩm này nọ có đủ để cho chúng ta cảm nhận được, cái chết táp vào mặt là thế nào. Tôi run toàn thân, quên cả căn bệnh mề đay quái ác vừa mắc phải, chăm chăm lo lắng thế sự. Tự hỏi : Mẹ kiếp, nếu trời nổi gió. Chuyện gì sẽ sảy ra nữa ? Cái khoảng cách quá gẩn. Cháy lan tàn trên diện rộng ? Cháy qua cả nhà tôi ? Mẹ kiếp, chỉ cần trời trở gió, chỉ cần có thế.

Thời gian như đứng lại, chả còn ai biết đến đất trời đang vần vũ ra sao cả.

Khói tỏa, những gợn khói âm ỉ lan ra bầu trời tạo ra những đám mây lạt thếch hình ô van, nhìn xuống thiên hạ như muốn cười ha hả, hôm nay ta lấy được một mạng người. Một người đàn ông , chân tật, vướn lại trên lan can, sàn gỗ cùng khói đã hun ông về với Trời. 'Tam tai', đáng sợ và ai oán.

Khói vẫn mãi trôi, hết bị dập xuống rồi lại ráng ngóc đầu lên hùng dũng, cháy thêm nhà đằng sau nữa rồi, người ta nói. Mùi khét xen lẫn mùi ẩm và kín mít xộc lên mũi, khó chịu. Đường tắc, nguyên khu Hàng Xanh mờ mịt trong khói và bụi. Phường phiếc chạy đua đến nơi. Dân chúng sống lân cận đấy thì thi nhau chạy ra đường. Những người đi làm về mới hay hung tin vội vã bấm tí tách những con số điện thoại cho người thân, mồ hôi xen lẫn những giọt nước mắt chực chảy.

Đau. Những âm thanh đấy. Đau. Tiếng nước chảy của vòi rồng, tiếng lách cách của những chiếc thang cứu hộ tưởng chừng nhẹ bẫng, tiếng trẻ con khóc ở đâu đó, tiếng gầm của xe cộ, tiếng la ó của những người đang thực hiện nhiệm vụ. Rồi những ánh đèn vàng vọt, trắng xóa từ những chiếc đèn pin cỡ bự thượng hạng, chập choạng len qua khói. Hương vị cuộc đời như đang nằm cả bên trong chúng. Trộn lẫn, vo gạo, ồ oạp. Đắng. Rồi cay.

Mọi thứ vẫn quy củ trong sự hỗn độn của riêng nó.

Không khí vẫn ám mùi khói.

Cánh phóng viên đến, họ thi nhau ghi ghi chép chép. Một anh chàng thoáng đãng bưng máy quay phim vào tận nơi. Anh quay ra, chỉa ống kính vào những chiếc xe cứu thương im lìm. Vang ra đâu đó những tiếng cười, hả hê, hô hố, vồ vập.

Người ta bắt đầu mỏi chân và về. Tôi len lỏi vào trong. Một căn cháy vừa phải, một căn cháy trụi. Đồ đạc người ta vứt bày ra đường, sách vở, tủ giường, vvv. Gác gỗ. Người đàn ông chết trên đấy, nơi bóng tối khéo léo che đậy nỗi tan thương. Những người thân vô tìm kiếm, Sập đấy, Sập đấy. Họ la. Đừng vào. Kéo thằng đó ra đi. Kéo nó ra mau lên, chết bây giờ. Chết cả đám bây giờ.

Nghĩ dại, nếu chẳng may khói lan sang nhà tôi, tôi sẽ làm gì đầu tiên, lấy đi những thứ gì, và sự bình tĩnh chắc chắn là không còn. Trong cơn hoảng loạn, người ta thường dại dột. Khi đó, mọi giá trị đạo đức chắc sẽ hoàn toàn sụp đổ, người ta quay lại bạn chất của chính họ, cái thứ làm nên con người - sự sinh tồn. Dù gì đi nữa, trong những hoàn cảnh khó nói thế này, con người có cơ may bộc lộ rõ nhất được bản chất của mình. Đấy là điều đáng sợ nhất. Xem 'Chúa ruồi', hay cả những phim KD máu me dồn ép như Saw, ta thấy kinh tởm. Nhưng, có lẽ hiện thực còn bạo tàn hơn, kinh hãi hơn.

Song le...

Ý nghĩa của sự sinh tồn ? 8h. Một nhà cháy. 8h15, thêm một nhà cháy nữa. Mẹ nó. Ngắn cũn cỡn. Ngắn cũn cỡn. Lay lất như ngọn đèn trước gió. Chết, hay không chết ?

Cát bụi lại quay về cát bụi.

Hết giờ. Điện có. Mọi thứ vẫn còn hiện hữu và ám ảnh, mới thấy đây mà rồi đã không còn. Mới sum vầy mà rồi tang lễ. Thời gian vẫn là thứ làm đau lòng con người nhất, không tính đến những thứ bị xúy quẩy dính vào.

Hết cháy. Gió thổi buồn hiu.

Thứ Năm, 9 tháng 9, 2010

Mãi yêu cuộc đời ta thăng trầm trong máu.

Mãi yêu cuộc đời ta thăng trầm trong máu.

Hình như những chiếc đèn
ô van
đang kêu gọi
Những cơn gió tốc đầu mưa
đang van nài
đổi mới
những thứ đã gần tàn
sắp chết
Sau hão danh
là sự cô đơn chồng chéo.
Buồn vì người
hay những cánh ô xanh
hay đỏ
dù chập chững
hay lao xao
đang van nài
đổi mới.

Mãi yêu cuộc đời ta quên mình trong trắng

Mãi thấy xẩu hổ
Khi chăng những cánh hoa hình tam giác
lục bình trôi
bay trên Sài Gòn buổi tối
Ăn khổ
Căn khổ
Ổ rơm rạ
Đói nghèo
trong trắng
vẫn đỏ lòm
trong đau
mình cười
người khẩy
họ khóc ròng
dù tỉnh
hay say
ta quên mình
trong trắng.

mộng - trong mơ
Tỉnh trong đời
Phải chăng là sự đua đòi
giết chết ta ?
Giấc mơ nào gần với thực tế nhất ?
Ta nào biết.

Mãi yêu cuộc đời ta ngâm mình trong máu.

Ồ người điên đang đi lại
Bên bờ hồ
trong nước cờ
nhập nhòa sáng tối
Mặc áo mưa khi trời khô ráo
Săn bù nhìn
Làm tình
Phê phình phình
Phượt
Cười
Đánh thượt
Đường chim bay
Bao nhiêu kilômơ dây điện
Mắc kẹt
Mắc cạn
Chim lẻ loi
Chờ thời
chờ ngày
tung cánh
Ai hi sinh cho chúng ta ?

Khi không còn gì
để mất nữa ?

Mãi yêu cuộc đời ta thăng trầm trong máu.
Và cả nước mắt.
Chảy vào trong tim.
Khối óc đỏ
Lừng lững bầu trời.
Hư vô
Hão huyền.
Người ta bay
Qua những cây số đạn trời
Người ta về
Kéo dạt mưa bom.
Cái vỏ bọc
ì à ồ oạp vồ vập vỗ về
sẽ mãi chỉ là cái vỏ bọc
trong mắt nhau.
Tuôn chảy
Sổ lồng
Ta thét gầm
Đòi đời
không cạn.
Mùa oai linh
nước cạn
Nhưng mãi kẹt mà thôi.

song le..

Thư số 2: ‘Sự nhẹ bẫng không chịu nổi của những đám mây lang thang’ Gửi H (công chúa),  Nếu em hỏi anh anh là ai thì anh sẽ bảo ...