Chủ Nhật, 31 tháng 1, 2010

Một đám đông đầy cô đơn đi trong giá rét. Tôi cô đơn, bạn cô đơn. Con người, cái thế giới này đã chết, đã bị nhấn chìm trong giối trá và giả tạo. Điên cuồn. Mọi thứ đều vô nghĩa. Ta sẽ chết. Có ai hay, có ai quan tâm. Tất cả mọi thứ đều đang chết. Chết gục trên bờ vực thẳm. Xa xa là bóng hình của ai đó. Tôi không biết.Cái bóng đổ dài lan trên mặt đất và đè lên bóng tôi. Tim tôi nặng trĩu. Có ai hay. Tại sao ? Câu hỏi vô nghĩa ????????? Vô nghĩa thế nào ? Mày có trả lời được không ? Con người đã chết trong tâm từ lâu lắm rồi. Chúng ta là những chiếc xe chạy ngược. Chạy ngược. Mọi thứ đều chạy ngược. ??????? Chạy ngược. Bóng đổ. Mày đang chết đó. Trống rỗng. Tôi. Còn ai nữa ? Cậu nói đúng, Dương ạ, tôi là cái cứt gì chứ.

Anh

Anh còn đó không anh ?
Không
Anh đã ngủ giấc ngủ ngàn thu.

Xương anh vỡ
Thịt anh tan
Khi đó anh nghe tiếng gọi của Người
Anh với tay và gào thét
Người dần xa.

Trong ngõ tối
Đầu đau nhứt
Tay run rẩy
Lịm dần
Lịm dần.

Trong ngõ tối
Không ai đếm xỉa
Không ai hay
Mọi người nhìn máu anh chảy
Chảy thành từng dòng
Quanh trái tim thổn thức
Và ngại ngùng.

Trong ngõ tối
Không ai quen
Không ai cho anh mượn
Dao hay súng
Anh tự nhủ
Mình đang khó thở
Khó thở.

Tiếng bass trầm cảm của đời
Anh đã vứt
Mọi thứ chỉ là cát bụi
Trong sa mạc
Chết là hết
Anh tự nhủ
Khó thở.

Anh cắt tay
Anh tự dìm mình
Anh hét
Anh gào
Anh la
Anh nhìn trời
Rồi lịm.

Người dang tay
Đón nhận
Giã biệt.

Tim

Một tai nạn
Một cuộc đổ máu
Máu đỏ
Máu đang chảy
Chảy thành dòng.

Một trái tim
Một con người
Tim đập
Tim cuốn quanh
Quanh dòng máu.

Màu sắc
Chỗ ngồi trống
Bên tôi
Tôi thấy già và cô đơn
Lạ lùng.

Về nhà
Đợi mặt trời mọc
Cuộc gọi
Không ai bắt máy
Không ai nghe.

Tim
ngừng đập
những trái tim mỏi mòn
Không ngủ.

Thứ Năm, 28 tháng 1, 2010

2 : 37


2 giờ 37 phút chiều, người ta tìm thấy một cô nữ sinh tự sát trong phòng vệ sinh của nhà trường, máu thấm qua khe cửa. Trước đó một chút, nhiều số phận đau thương va đập vào nhau ....

Ở bài review trước, tôi đã nói đến Elephant, một phim nói về giới trẻ. Nay, tôi lại nói đến một phim cùng chủ đề đó , 2:37. Phim đầu tay của một đạo diễn Australia Murali K. Thalluri, khi làm phim này ông mới 19 tuổi (hay 21 gì đó không nhớ nữa), một cái tuổi quá nhỏ để nhận được đề cử giải thưởng danh giá như Un Certain Regard của 2006 Cannes Film Festival. Phim có nhiều điểm tương đồng với Elephant của Gus Van Sant.

Vẫn tiếp nói cái chủ đề học đường, 2:37 kể về 6 câu chuyện của 6 học sinh trung học. Melody, Marcus, Luke, Sean, Sarah, Steven và Kelly. Mỗi câu chuyện của từng nhân vật là một nỗi niềm, một sự bày tỏ, một tính cách, một số phận. Không câu chuyện nào tốt đẹp cả. Tất cả đều được phủ lên bởi một màu đen tối u ám. Họ bao gồm : Melody, một nữ sinh trung học trầm lắng, chịu sự bỏ bê và không quan tâm của cha mẹ, bị cưỡng bức bởi anh trai từ khi cô 13 tuổi. Rồi sau này, phát hiện mình có thai. Marcus, anh trai Melody, chịu sự kì vọng quá mức của gia đình khiến nó trở thành một áp lực, một gánh nặng bên vai cậu. Luke, một ngôi sai thể thao, che giấu sự Gay của mình bằn cách yêu một cô gái và quậy phá cứng đầu chọc gẹo người khác. Sarah, bạn gái Luke, yêu cậu ta rồ dại. Sean, một Gay chính thống, bị sự nhạo báng và chê cười của những học sinh khác, tìm đến ma túy để xoa dịu chính mình. Quan hệ đồng tính với Luke một cách bí mật. Sean muốn chứng tỏ cái Gay của mình, cậu không care đến mọi chuyện. Steven, chuyển từ Anh quốc xa xôi đến, gặp vấn đề về thận và chân khiến cậu có thể tè ra quần bất cứ lúc nào ngoài tầm kiển soát, chân đi khập khiễng. Điều đó khiến ai ai cũng chê cười cậu. Và cuối cùng là Kelly.

Bởi thế, cuộc sống trường học đối với chúng thật là một nơi điên rồ và chán nản. Câu chuyện đen tối và vạch trần cuộc sống của những đứa trẻ 16-17 này khiến chúng ta sững sờ với quá nhiều vấn đề. Mạch phim bắt chước Elephant, chia ra theo nhiều lời kể của nhiều nhân vật khác nhau rồi có khi đụng lấy nhau theo nhiều hướng nhìn khác nhau, xen kẽ đó là những đoạn phỏng vấn từng nhân vật nêu rõ vấn đề và cảm xúc – tâm tư của chúng. Những đoạn phỏng vấn đó, dùng màu đen trắng, cho ta thấy tài diễn xuất của những diễn viên không chuyên này, góc quay cận mặt để chúng trình bày mọi chuyện.

Tài năng của đạo diễn trẻ tuổi được bộc lộ qua việc đưa nhân vật cuối cùng trong danh sách của chúng ta, Kelly ra ngoài lề những câu chuyện trong phim. Kelly xuất hiện xen kẽ với những nhân vật chính với những số phận thê thảm còn lại, chia sẻ nỗi niềm với họ nhưng bị họ phớt lờ - và làm cho ta cũng như khán giả thấy phớt lờ luôn cô ấy. Ta thấy Kelly như là một thiên thần, một cô gái quan tâm đến người khác, một cô gái hạnh phúc với chính mình. Kelly như là một nhân vật trung lập trong câu chuyện, chỉ làm nền cho những nhân vật khác, với một con mắt nhìn lấy mọi sự việc. Ngay cả đến những giây cuối phim ta mới thấy được tên và đoạn phỏng vấn của cô. (và đoạn phỏng vấn của cô rất vui vẻ, thế mới chết chứ). Thế nhưng không, cảnh cuối phim là cảnh Kelly tự sát – còn 5 nhân vật kia thì không. Rúng động và bất ngờ. Cảnh đó dài tận 15 phút thì phải, quay lại cận cảnh tất tần tật mọi công đoạn của việc rạch tay. Khi đó, Kelly đã trầm cảm và điên dại đến tột cùng, dùng kéo cố rạch tay mình. Và rồi, máu xịt ra ướt đẫm một nền nhà trắng tinh và đẹp. Cô cười, cô khóc những tiếng man dại. Chúng ta, những khán thính giả bắt đầu nhắm mắt, bị chặt miệng lại, khóc và la hét tột độ theo từng hành động của Kelly. Phải nói rằng nó rất kinh khủng, khi thấy cô run rẩy và hát khe khẽ người giật lên từng đợt. Tuy điên là thế, nhưng cảnh đó là cảnh có giá nhất phim.

Vì sao ? Thứ nhất, việc mở đầu phim bằng cảnh tượng máu chảy lan ra ngòai cho ta biết có chuyện gì đó không hay. Và những câu chuyện tiếp theo khiến ta băng khoăng không biết ai sẽ là người nằm trong vũng máu ấy. Sự tò mò kích thích chúng ta nhưng khi cái kết tiết lộ, chúng ta bàn hoàng. Đến tận cuối cùng ta vẫn không biết tại sao Kelly chết. Ta chỉ thấy, cô ta đi thẫn thờ, lạc lõng giữa học sinh khác, không bạn không bè. Cô ta cũng không nói cho ai biết về vấn đề của riêng cô. Chúng ta, những người lớn, những người bạn, có lẽ đã quá vô tâm. Và như thế càng tồi tệ thêm mọi vấn đề. Những nỗi đau thầm kính và tự vấn trong tim luôn luôn sẽ tìm chổ để bộc phát, và Kelly tự tử là cái hậu quả cao trào của nó. Việc phỏng vấn sau cái chết càng làm minh chứng cho việc đó : người thì cảm thấy cô ta quá hạnh phúc đến nỗi chả cần quan tâm đến cô, người thì thuyết giáo một hồi về cái chết thiên đường địa ngục, Mel thì nói rằng Kelly chết đi là may mắn lắm rồi. Trong nhiều trường hợp, những người không bộc lộ gì có thể là những người có nhiều vấn đề nhất.

Về kĩ thuật, góc máy thì bắt chước i chang Elephant, dùng tracking shot, steadicam dõi theo nhân vật suốt những đoạn hành lang và cầu thang dài đằng đẵng, rung rinh. Montage không lạm dụng để gây ra cắt cảnh nhiều. Nhưng, tuy bắt chước, nhưng ít ra nó cũng làm ta hài lòng ta một phần nào đó. Âm nhạc thì khác với Elephant một chút, là những khúc piano nhẩn nhơ và có phần đẩy đưa, nghe đến gai người. Âm nhạc làm cho câu chuyện thêm phần mệt mỏi. Âm thanh là điểm mạnh của phim, dùng rất nhiều tiếng động ngoài hình như tiếng chửi thề, nói chuyện, tiếng la hét, tiếng tạp âm, tiếng khóc, tiếng cười, tiếng nước chảy và đủ thứ khác. Điều đó tạo cho ta thấy một bầu không khí hoảng loạn và điên dại tột độ trong trường học.

Không rõ có phải là copy hay không nhưng phim cũng sử dụng tán lá cây xanh vòm như Elephant sử dụng đám mây trôi. Tán lá mang tính chất ám chỉ sự trong sạch và thanh xuân của tuổi trẻ. Ta nghe lắc lẻo những tiếng chuông như mang hàm ý về một nỗi nguy, một sự cảnh báo cho việc sự thanh xuân đó đang bị vấy đục.

Về thủ pháp ta thấy nhiều điểm copy Elephant rõ rệt như đã nói ở trên. Chỉ có khác nhất là 2:37 đi sâu hơn vào từng nhân vật, bởi vậy ta thấy rõ hơn cái nhìn chủ quan của bọn trẻ. Điều đó được thể hiện ở những chỗ Interview nhân vật xen kẽ phim. Cho ta cái nhìn của chúng về thế giới, về trường học nơi chúng đang chìm sâu trong đó. Thế nên, phim cho ta đắm chìm hơn vào câu chuyện và nhân vật. Và hiển nhiên, gây shock chúng ta hơn. Phim kể lại những câu chuyện đen tối của từng lứa học trò, và vẫn đưa ra nguyên nhân nào đó, nhưng vẫn không quá nhấn mạnh chúng. Và không trả lời chúng. Tất cả chỉ là một mớ hỗn loạn bên trong từng nhân vật. Ta thấy nhân vật khóc, la hét, buồn bã. Cảm xúc tràn ngập. Phim không có lối thoát, (nếu ta bỏ qua việc tự sát), cho nên điều đó khiến phim trở nên đau đáu trong lòng người xem.

Cái khác nữa đó là màu sắc của phim. Elephant cho ta một bầu không khí khách quan nhất bởi thế khung cảnh vẫn trông một vẻ ngoài rất trung lập và bình thường nhất. Trường học vẫn đầy rẫy tiếng cười. Nhưng trong 2:37, tone màu không hẳng là xám xịt nhưng mang đậm vẻ u ám.

Phim ám ảnh, đặc biệt là đoạn cuối. Có khá nhiều cảnh nặng nề trong phim như loạn luân, tự sát, hút ma túy, nude, thủ dâm, ... có khả năng gây bắt chước cao, không mang tính nhân văn hay giáo dục gì chi hết, cho nên có lẽ sẽ không phù hợp với một số người (đặc biệt là người trẻ và không ổn định tâm lý). Nó vạch trần mọi mặt tồi tệ nhất của cuộc sống học sinh, và dường như làm cho nó thêm phần khó thở. Phim là một cú chấm phá mạnh. Tuy mang danh copy Elephant nhưng phim vẫn tạo dấu ấn cho người xem, mặc dù theo tôi thì Elephant có giá trị hơn. Cuối cùng, phim không dành cho mọi người, nhất là trong một cuộc sống quá dỗi ngạt thở như hiện nay. 18 + .

Thứ Hai, 25 tháng 1, 2010

Elephant


Thảm sát Colombine xảy ra vào ngày 20/4/1999 đã làm rúng động toàn cầu về giới trẻ. Chúng nghĩ gì ? Chúng làm gì hằng ngày ? Tại sao lại xảy ra chuyện động trời đó ? Đó là câu hỏi mà đa phần người lớn đều muốn biết. Họ dường như đã quên đi vai trò của các bậc làm cha làm mẹ, làm thầy làm cô cho đến khi một hồi chuông quá lớn đánh bậc họ ra khỏi chiếc ghế vô tâm của mình. “Elephant” là một cuốn sách minh họa, dù có thể chưa hoàn chỉnh với một số người, về con trẻ. Nó kể lại mọi chuyện, với một trường Trung học giả định, với tên nhân vật giả định, nhưng mọi thứ vẫn như thế, vẫn rúng động, vẫn làm ta phải bần thần sau khi mọi thứ dường như kết thúc.

Về cốt truyện, Elephant không có gì để kể. Một ngày như mọi ngày ở một trường trung học. Với bao nhân vật, với bao suy nghĩ, bao tính cách. Và kết thúc dĩ nhiên ta đã biết trước, là một vụ thảm sát. Bình thường, cốt truyện dường như quá chán đúng không ? Bạn biết trước luôn kết thúc. Nhưng, với cấu trúc đặc biệt và thủ pháp dàn dựng tuyệt vời, Elephant sẽ đủ để cuốn hút nhiều người.

Khi tôi nói đến cấu trúc đặc biệt, là ý tôi muốn nói Elephant không kể lại câu chuyện theo cách thông thường, tức là nó không chạy theo một timeline nhất định từ đầu đến cuối, nó cũng chả thèm flashback kể lể quá khứ bi thảm hay những chuyện đại loại như thế. Cấu trúc của phim là non-linear timeline, chạy theo nhân vật. Câu chuyện sẽ đi theo các học sinh thân yêu của chúng ta, từ một John tóc vàng hoe lái xe vào trường với một ông bố rượu chè, đến Elias – một nhà nhiếp ảnh (nghe kiêu quá) , Michelle – một cô gái ngượng ngập và xấu hổ về bản thân mình, 3 cô gái bạn thân chuyên tán nhảm – hay ta gọi là gossip, 2 đứa thủ phạm đồng tính và rối loạn. Mọi thứ cứ diễn ra theo cái nhìn của từng nhân vật và đụng nhau trên con đường cấu trúc của chúng. Tức là một cảnh có thể bạn sẽ thấy hai ba lần gì đó với cùng một thoại, khi thì dưới mắt của nhân vật này, khi thì nhân vật kia. Đó dường như giúp kết nối rõ câu chuyện hơn, theo nhiều góc nhìn hơn và tạo cho ta một cảm giác hết sức hứng thú và khoái (nếu như bạn đủ kiên nhẫn). Khi ở đầu phim, với góc nhìn của John, bạn thấy hai đứa mang súng vào trường thì rồi nhảy sang nhân vật khác ,thì ở đoạn cuối bạn cũng sẽ thấy cảnh i như vậy nhưng sẽ được tiếp tục theo dõi diễn biến của vụ thảm sát dưới góc nhìn của chúng. Bạn sẽ hỏi rằng : mọi thứ sẽ xảy ra như thế nào ? Tại sao lại thế ? Và cứ dõi theo bộ phim sẽ đưa cho bạn nhiều câu trả lời. Bởi thế, dù ta biết trước cái kết của phim nhưng bạn vẫn phải căng mắt dõi theo bộ phim.

Bạn cũng sẽ thấy ngạc nhiên với cảnh bầu trời được lập lại đến 3 lần, một lần ở đầu phim, một lần giữa phim và một lần cuối phim. Những đám mây di chuyển một cách cuồng nộ và âm u như nêu lên cái sự đen tối của bộ phim, của từng cá thể học sinh trong trường. Nó báo hiệu một cái gì đó âm u và chuyển động trong tâm hồn. Cảnh đầu, mây bay rồi trời tối òm báo hiệu tính chất của phim (như A short film about killing vậy). Cảnh giữa (thật ra là gần chót nhưng gọi vậy cho tiện), nó báo hiệu một cuộc thảm sát sắp xảy ra. Và cảnh cuối, nhạc nổi lên, mây trôi trong những âm thanh ambient rề rà đằng sau, không kết thúc, không lời giải khiến cho mọi thứ trở nên ám ảnh.

Bỏ qua chi tiết đám mây trôi vù vù thì bộ phim mở đầu với một cú quay chúc xuống, vẽ nên một con đường dài, đẹp tuyệt vời với lá vàng rơi rụng đầy đường. Cuộc đời học sinh bắt đầu thật đẹp. Ta sẽ nói đến thủ pháp của phim. Đó là tracking shot, steadicam và long take. Chúng hòa quyện và bổ sung cho nhau. Long take tạo cho ta một không khí và thời gian dài đằng đẵng suốt các hành lang hay cầu thang trong trường, tracking shot, chạy theo nhân vật thật lâu trong thời gian di chuyển giữa các hành lang đó, một cách chậm rãi và rung rinh liên hồi, steadicam bổ trợ cho nó theo dõi nhân vật một cách gọn gàng và nhanh chóng, lia qua từng gương mặt, theo dấu họ đi lên từ từng bậc cầu thang, nói chuyện với từng người, vào phòng này phòng nọ bước ra, tán nhảm nói dóc đủ điều. Điều đó khiến phim trở nên từ tốn bằng phẳng đều đều và có vẻ nhàm chán. Những phút giây tầm thường và không có gì nổi trội ấy được thể hiện thành công qua từng chuyển động của máy quay như thể hiện cái tâm trạng và cuộc sống bất ổn của giới trẻ, và gia tăng phần rung sợ và ám ảnh hơn khi cái kết đau thương đến. Ngoài ra, Gus Van Sant còn sử dụng một vài đoạn slow motion như một biện pháp thị giác làm tăng thêm cái vẻ bình thản chậm chạp bên ngoài đó, và làm bộ phim trở nên nhấn nhá và đẹp hơn trong một vài cảnh khá ấn tượng.

Và, phim cũng sử dụng thành thạo việc kết nối những góc máy : chủ quan và khách quan. Chủ quan : nhân vật – khách quan : máy quay. Chúng ta nhìn ngắm bọn trẻ nhưng không kịp phán xét rồi bất ngờ nó làm ta giật bắn mình. Có lẽ đạo diễn muốn nói : Tôi làm một phim dựa trên một sự kiện có thật, và nó có lẽ còn thật hơn cả sự thật. Và tôi không phán xét, tôi chỉ làm mọi người sợ nó, giật mình vì nó, không thể bình thản vì nó. Ngoài ra, với góc máy chủ quan : đưa ta vào tầm mắt nhân vật để thấy mọi thứ gần gũi, mọi thứ quen thuộc, những người bạn của nhân vật, những việc thường ngày, những không gian thường trực. Rồi sau đó sự va đảo vị trí giữa góc máy chủ quan và khách quan (tức là nhìn từ bên ngoài vào) thể hiện rằng một sự việc không đơn giản là đúng hay sai mà cần được nhìn theo nhiều chiều khác nhau. Điều đó giúp cho bộ phim càng gần đến sự thật hơn.

Âm nhạc lại là một điểm nhất khi đưa những đoạn nhạc cổ điển tuyệt vời lồng ghép vào phim. Từ Moonlight Sonata đến Fur Elise. Một biện pháp tương phản đối lập chăng. Hay nó muốn nói lên sự mâu thuẫn trong bản chất của con người. Một cảnh phim : 1 đứa với gương mặt thiên thần đang đánh piano, một đứa đang bắn súng trong laptop. Sau đó, đứa đánh đàn piano rời bỏ vị trí trang trọng của mình và nhảy vào laptop tìm mua súng, đứa kia lại ngồi đọc sách. Rồi sau đó, đứa trẻ bị bắt nạt với gương mặt hiền hậu đánh piano ấy lại là người cầm đầu cuộc thảm sát, rồi sau đó còn giết người bạn của nó. Điều đó thể hiện rằng, tâm lý con người phức tạp và bất ổn – nhất là đối với lứa tuổi đó và, đôi khi người lớn nên xem xét con em mình kĩ càng và sâu kín hơn chút nữa. Cũng như John thoạt đầu có vẻ bất mãn với người bố rồi sau đó bị ông hiệu trưởng phạt vì đi trễ khiến ta bắt đầu cảm thấy “Chà, một thằng học sinh tồi nữa đây” - nhưng sau đó ta lại biết được rằng, lý do sâu xa là do cậu yêu bố, cũng như lúc cậu chạy ra thông báo cho mọi người tránh xa khỏi ngôi trường khi biết có chuyện sắp xảy ra, hay cảnh cậu tìm bố với bộ mặt hốt hoảng rồi hai người nói chuyện quàn vai nhau ở cuối phim, nhìn về ngôi trường đang bốc khói. Cảnh đó thật đẹp, ta trở nên đồng cảm với nhân vật John hơn. Mọi thứ đôi lúc không nên nhìn vào vẻ bên ngoài. Âm thanh rất tuyệt và sử dụng hợp lý – chân thật, những tiếng bước chân vang vọng giữa hành lang với những cái bóng mờ mịt, tiếng súng không rõ từ đâu, tiếng nước chảy róc rách, tiếng ambient đôi lúc đáng sợ. Và đoạn cuối, trò chơi của kẻ cuồng sát vang lên lạnh lùng trong phòng căn phòng chứa thịt khói phủ, vang vọng và ám ảnh "eeny, meeny, miny, moe. cacth a tiger by his toe. if he holler let him go. eeny, meeny, miny, moe" rồi chợt chấm dứt, không rõ liệu trò chơi điên rồ đó sẽ trúng ai. Ai sẽ chết. Ai sẽ trả giá. Đó cũng là một cái kết mở. Không có lời giải.

Phim nhiều nhân vật và nhiều cảm xúc nhưng không nói rõ ra từng cái background (hay tiểu sử nhân vật) cụ thể, điều đó khiến phim có một cái nhìn trung lập- khách quan nhất, như người đứng ngoài cuộc. Thế nhưng, ta vẫn cảm thấy từng cảm xúc của nhân vật và vẫn cảm nhận được tâm trạng của họ : lạc lõng, cô đơn (cảnh hai đứa trẻ đồng tính hôn nhau thật là kinh), khát vọng, tình yêu (hai đứa bồ bịch và một cảch ngọt ngào khi một cô bé hôn John), sự ích kỉ. Chúng ta cảm thấy nhân vật nhưng không cần biết tại sao lại có cảm giác đó. Chúng ta có cảm giác như bỗng dưng bị thả vào trong một sân trường với toàn người lạ và dõi theo diễn biến của họ, đồng cảm với họ mà không quan tâm họ như thế nào và tại sao lại làm việc đó. Sẽ trở nên thừa thãi nếu nói oang oang lên mọi thứ. Phim giản lược một cách triệt để, như khi ta đang xem một phim tài liệu, dửng dưng và lạnh lẽo. Điều đó có ích lợi gì : thứ nhất, nó không cho ta một cơ hội nào để xét nét từng cá nhân trong phim. Gus Van Sant không có chủ đích dạy đời một cách lộ liễu hay khuyên dạy giới trẻ gì hết, cũng chả thèm phê phán ai cả. Nó đơn giản chỉ là một cái nhìn về cái ngày tan thương đó một cách dũng cảm và chân thật. Và bởi vì, ai ai cũng có mâu thuẫn và vấn đề của riêng mình thì nên trách ai bây giờ ? Không như Bowling For Columbine của Michael Moore vốn chỉ trích đủ thứ về cuộc thảm sát một cách dường như quá kích động, dưới cái nhìn của người lớn, thì Elephant cho ta góc nhìn của tụi trẻ, một cách nhẹ nhàng và điềm tĩnh và khôn ngoan hơn. Thứ hai, nó khiến cho nhân vật có vẻ bị động hơn, dưới sự chèn ép, tác động của mọi vấn đề và với bộ óc chưa chính chắng khiến chúng trở nên như bị đưa ra rìa cuộc sống xô bồ và có nhiều hành động rồ dại. Thứ ba, chúng ta không cần mọi chuyện trở nên quá chi tiết, bởi vì càng biết nhiều về nhân vật bấy nhiêu, càng hiểu rõ về họ bấy nhiêu, thì khi đó, cái chết của nhân vật sẽ càng làm rúng động khán giả hơn bấy nhiêu, và điều đó dường như quá mức chịu đựng của một bộ phim vốn đã nhạy cảm và đen tối như thế này. Thứ tư (cái này có thể gộp chung vào cái thứ ba cũng được), việc đó khiến ta thấy khủng hoảng hơn khi thấy hai đứa trẻ với bộ mặt dửng dưng ngang nhiên lập kế hoạch chi tiết rồi bình thản bắn giết mọi người. Thứ năm, việc không đi sâu vào tiểu sử từng nhân vật trong phim còn cho ta thấy rằng, điều này có thể xảy ra ở bất cứ nơi đâu, bất cứ ngôi trường nào, với bất cứ ai.

Bởi dửng dưng vậy, nên ta khó có thể tìm ra một lời tố cáo rằng ai tốt ai xấu một cách hoàn toàn. Như đã nói, ai ai cũng đều có vấn đề của riêng mình cả. Thế nhưng, người lớn trong phim dường như bị đánh giá là một cái gì đó bất lực : người bố say rượu, ông hiệu trưởng vui vẻ mỉm cười với trò chơi quyền lực nho nhỏ của ông, cha mẹ li hôn – không quan tâm đến con cái, .... Điều đó có thể nào ảnh hưởng gián tiếp đến mọi chuyện khủng khiếp xảy ra ? Ai biết được.

Và, Gus Van Sant đã đưa ra (hay gợi ra có vẻ chính xác hơn) nhiều vấn đề : ảnh hưởng của truyền thông, video games, tự do súng ống đến nỗi giao hàng tận nhà luôn cơ chứ, áp lực trường học xã hội. Nhưng, ông không tìm cách để chứng tỏ, kết án hay giải thích nguyên do vụ việc cả. Trong một cảnh như đã nói ở trên : hai kẻ cuồn sát một đứa đang chơi piano, một đứa đang chơi video game. Hoàn tòan trung lập, ta thấy rằng liệu âm nhạc là thứ cuốn quanh tâm trí bọn trẻ hay video games, hay một thứ gì đó khác nữa ? Nhiều vấn đề được đưa ra một cách xen kẽ và chồng chéo vào nhau khiến ta thấy như Gus Van Sant quá tham lam chăng ? Và dù đưa ra nhiều lời cảnh báo như vậy, ông vẫn giữ nguyên tính chất khách quan và trung lập của mình, không giải thích - không áp đặt (như nhiều người đã đơn giản áp đặt cho phim). Và việc đó cũng có thể là một lời châm biếm về những thái độ của người lớn khi nhìn nhận một chiều về vấn đề của giới trẻ, đó là áp đặt, đó là suy diễn, đó là viện cớ, dường như họ đã quên đi một phần lỗi lầm là do họ. Điều đó đã gây ra nhiều ý kiến tranh luận khác nhau. Nhưng, như Gus Van Sant đã phát biểu : 'We didn't want to explain anything. As soon as you explain one thing, there are five other possibilities that are somehow negated because you explained it in one way. There was also the issue of finding an explanation for something that doesn't necessarily have an explanation.'

Nhạy cảm, đúng thế. Bởi vậy, bộ phim đã có nhiều ý kiến dư luận trái chiều gay gắt. Và câu hỏi được đặt ra : Liệu bộ phim như thế này có được phép làm không ? Đã có người nói, bộ phim làm cảm hứng cho một vài vụ thảm sát sau đó. Điều đó thật mỉa mai thay cho một tác phẩm chân thật về học đường thế này (dù nó ở tận xa lắc bên Mỹ).

Khi tôi nói chân thật, ấy là tôi nói thật lòng đấy. Cuộc sống trong trường học được mô tả hết sức sinh động. Lớp học, bắt nạt, bóng bầu dục, tán chuyện, mâu thuẫn, tình yêu đều được bộc lộ một cách khéo léo với những câu thoại chân thật với lứa tuổi. Đã có nhiều bộ phim làm về học trò (VN lẫn quốc tế), nhưng hầu hết tôi thấy thoại rất chán, đó dường như là những câu thoại từ miệng người lớn nói ra và bắt lũ trẻ lập lại, răng dạy và sáo rỗng. Không, thoại trong Elephant không như thế. Ngắn gọn và đúng mực, không ngượng ngùng, không đao to búa lớn. Diễn viên trong phim không nổi tiếng, toàn dân nghiệp dư hoặc tay non với tuổi đời và tuổi nghề còn rất trẻ, nhưng phải nói là diễn xuất rất ổn (mà có khi cũng chả cần diễn gì nhiều – vì mọi việc họ cần làm là lập lại những gì mà hằng ngày họ làm trên trường lớp, đơn giản và bình thường). Và điều đặc biệt hơn nữa, tên của nhân vật trong phim gần như trùng với tên diễn viên. Tại sao ? Phải chăng Gus Van Sant muốn cho ta thấy, ai trong chúng ta cũng có thể là một trong số những học sinh trong vụ thảm sát ấy. Điều đó giúp ta nhận thức được hơn, không cần than khóc, không rề rà nhưng ta sẽ nghĩ rằng : Có chăng mình sẽ là một trong số những nhân vật trong đó ? Và sự cảm thông, sự nhận thức từ khán giả với vụ thảm sát, với bộ phim được tăng lên một cách gián tiếp.

Mọi thứ có chấm dứt không ? Ai biết được. Ngay từ cái tên cũng cho ta thấy một mối hoài nghi lớn lao. “Elephant” được bắt nguồn từ thành ngữ “Elephant in the room” của Anh. Hàm ý muốn chỉ đến một vấn đề to lớn cần được giải quyết nhưng không ai đếm xỉa hay dám nói lên cả. Con voi có thể là giới trẻ, có thể là tình trạng đáng báo động của việc súng ống tự do, có thể là phản ánh lên những vấn đề đáng nguy khác. Bạo lực học đường chẳng hạn ? Hay, “Elephant” cũng có thể hiểu theo câu chuyện thầy bói xem voi ở nước ta, mỗi người nắm lấy một phần con voi và luôn cho mình đúng, nhưng thật ra chẳng ai đúng cả. Những gì họ nắm lấy chỉ là một phần rất nhỏ con con voi to lớn và đồ sộ.

Theo tôi, Elephant được tạo nên với một phong cách Châu âu hơn là Mỹ, đó cũng có thể là lí do bộ phim đạt được lắm giải ở các LHP quốc tế, ví dụ như Cannes Film Festival 2003 phim đạt được các giải : Best Director, Cinema Prize of the French National Education System, và quan trọng là Golden Palm.

Sau khi xem xong, tôi tự hỏi, với những đứa trẻ khuôn mặt thiên thần, trầm tĩnh, tâm hồn nghệ thuật phơi phới (tạm gọi thế), thì mầm mống cái ác xuất phát từ đâu ? Có phải do đó là một phần bản chất của con người hay không ? Như đã nói, phim không đưa ra câu trả lời, không đưa ra giải pháp, không đưa ra lí do cụ thể. Những thứ ta đang thấy là sự thật, là những câu hỏi không lời đáp, là những nỗi ám ảnh về một thế giới mới với những đám mây trôi u ám trên bầu trời. Bạn, quý khán giả yêu dấu bị buộc phải dấn thân hơn để tìm ra câu trả lời cho riêng mình.

Thứ Bảy, 23 tháng 1, 2010

Sài Gòn mùa giông bão

Hôm nay, quanh Sài Gòn.
Tôi không còn thấy em,
Không còn thấy mặt trời.
Không còn nhìn thấy nhau.

Hôm nay, quanh Sài Gòn.
Trời mưa u uất hoài.
Làm sao tôi thấy đời
Làm sao tìm lấy nhau.

Hôm nay, quanh Sài Gòn.
Đời ta như mất rồi
Làn mây bay gió chiều
Cuốn theo lắm bi ai.

Hôm nay, trời chợt nắng
Sau bao cơn mưa
Sau bao mê say
Sau bao giọt nước mắt nồng cay.

Mưa đã qua đi.
Mưa đã ra đi.
Ta đã ra đi.
Bao cơn mê đã ra đi.
Em đã ra đi.
Chim đã bay.
Bay rất xa.
Gió thổi mây bay.
Bay rất xa.
Xa vời đau thương....

Một bài nhạc đầu tay ư ? Tôi không biết. Tôi ngân nga lấy những giai điệu trong đầu và viết lời trong tim.


PS:
Rồi một ngày xa xăm nào đó
Buồn một đời du dương nào đó
Ta sẽ nói với ta vài câu gì đó :
“Mày chỉ là cát bụi.”
“Mày chỉ là con rắn la đà.”
“Trong cõi bình sinh vô cực vô thiên.”

Vốn là thế, thiên thu bất tuyệt
Gió đưa phành phạch
Cuốn ta khắp trời
Năm tháng ngao du
Bốn bờ bốn bể

Ta đã nhớ
Rồi ta sẽ quên
Nhất thời u uẩn
Nhất thời buồn
Nhất thời say
Nhất thời chửi
“Đời là chó.
Nhắm rượu cho xong.”

Ta vốn là mây là cát
Là gió là trăng thao túng đất trời
Nay gió ngừng trăng đến bờ tận thế
Mây mù xa cuốn từng khúc lệ rơi.

Thứ Tư, 20 tháng 1, 2010

Tôi không thể ngủ

Tôi không thể ngủ
Những ánh trăng tàn phai soi mói
Những ký ức nhạt nhòa
Những đóa hoa héo úa.
Và chóng tàn.

Tôi không thể ngủ
Khi mà nơi đây
Vang vọng
Tiếng tĩnh mịch
Tiếng thì thầm
Tiếng nước chảy li ti
Và câu hỏi
Tôi là ai ?
Cũng vang vọng bên tai.

Bóng tôi bay
Bay
Bay
Như phê thuốc
Như vừa dứt nợ trần
In đậm nền nhà
Những khuôn hình tối
Không ai vẽ nên.

Những mảnh gương vỡ
Những tiếng cello buồn da diết
Diết da
Xiết ta

Mưa hoài mưa mãi
Tôi không thể ngủ
Lắng nghe một khúc nhạc Sầu
Chopin
Sầu
Ý Đại Lợi
Anh Cát Lợi
Sầu Nữu Ước
Sầu Paris
Sầu Champagne
Sầu Sài Gòn
Sầu Hà Nội
Sầu...

Hạt mưa rơi
Rồi tan tành
Tôi cũng rơi
Vào bóng tối
Giã biệt.

Chủ Nhật, 17 tháng 1, 2010

Chủ Nhật

Sáng Chủ Nhật
Bần thần bên một tách cafe
Nghe râm rang một bài ca vô vọng
Chợt thấy mình buồn
Và tự hỏi
Mình là ai ?
Mà sao không dám nói thành lời.

Sáng Chủ Nhật
Ngồi gật gù bên khúc gỗ
Như một khúc gỗ
Không dám làm gì
Kể cả khóc.

Sáng Chủ Nhật
Gió thổi lạnh buốt đôi tay
Gõ lọc cọc bên chiếc máy tính già nua cũ kĩ
Rồi nhìn ra
Thấy đời đã bay mất
Như làn gió bụi.
Khóc làm gì ?
Hỏi làm gì ?

Phâp phồng cánh mũi mùa xuân đến
Nhớ một ngày đã mất
Nhớ một chiều đông sắp tàn
Nhớ một cảnh rề jim buồn da diết
Nhớ một giọt lệ rơi lã chã trên vai
Ký ức
Đã đi xa trăm ngàn thế kỉ
Không thể cứu vãn
Trong một sáng Chủ Nhật u ám
Lạnh lẽo
Và không người qua ...

Thứ Ba, 12 tháng 1, 2010

Những chiếc xe chạy ngược

Tôi vẫy vùng
Và cố thoát
Nhưng những gì tôi thấy
Chỉ là những chiếc xe chạy ngược.
Đến
Nơi vô vọng là bạn
Nơi hư vô là gia đình
Nơi búa đập kéo cắt dao găm nơi cổ
Nơi súng đạng đì đoàng những bài ca
Khốn khổ.

Những chiếc xe
Chạy ngược
Mang trong mình dòng máu hiện đại vô ngần.
Nhưng
Chuyện gì đã xảy ra ?
Tại sao chúng lại lui về vực thẳm ?
Những cặp mắt
Dói theo
Miệng nhai ngồm ngoàm
Hamburger
Uống rột rột
Coca Cola
Đen trắng hay vàng
Họ tự hỏi
Tại sao ?
Những chiếc xe chạy ngược.
Người vẫy vùng
Cố thoát
Là tôi
Hay họ ?

Ánh đèn xe chớp tắt liên hồi
Và cuốn theo nào rác nào lọ lon chai rỗng
Cuống đi những người già
Ho khụ khụ đòi lên trời
Cuốn theo những ước mơ
Và hi vọng
Của những đứa trẻ chân trần áo rách

Những chiếc xe đang và sẽ
Chạy ngược mãi mãi
Dưới những ngôi nhà cao tầng săm soi.
Dưới những cánh rừng trơ trọi.
Dưới bầu trời âm u, chim không lượn cánh.
Còn tôi
Và thế giới này
Sẽ đi về đâu ?

Thứ Năm, 7 tháng 1, 2010

I Don't Want To Sleep Alone


I DON'T WANT TO SLEEP ALONE
Đạo diễn : Tsai Ming Liang (Thái Minh Lượng)

Không có gì vui vẻ khi làm ra những bộ phim luôn vắng khách nhưng đó là trường hợp của Tsai Ming Liang, đạo diễn của những bộ phim độc lập độc đáo, người đã mang về cho điện ảnh Malaysia nhiều vinh quang nhưng lại chịu sự đối xử không mặn mà của nhà nước. Tsai Ming Liang hài hước nhắc khéo khán giả đến rạp xem phim của mình : “Khi xem phim tôi nếu bạn ra về xin hãy giữ trật tự để những người còn lại ngủ.” Tuy vậy, Tsai Ming Liang không bị đẩy về phía lạc lõng mà ngược lại nhiều khán giả đồng cảm đã tìm thấy tiếng nói vong thân, niềm thầm kín cô đơn không sao thấu hiểu con người từ những bộ phim của ông. Đơn giản ông là một đạo diễn diễn tài tình trong việc lột tả sự cô đơn của con người.Ở đây, dùng từ lột tả như để nói lên rằng, cái cô đơn của Tsai Ming Liang là cái cô đơn được đẩy đến tận cùng gốc rễ,cái cô đơn mà ta không thể chịu được.

I Don’t Want To Sleep Alone là một minh chứng cho tài năng của Tsai Ming Liang. Từ cái tên, ta đã thấy dụng ý của ông, “I Don’t Want To Sleep Alone”. “Không muốn” chứ không phải là “không thích”. “Like” là hình thức yếu nhất của nhu cầu trong đời sống, mang tính chất chủ động của mỗi cá thể. Nhưng, “Want” cho ta một hình thức khác, dựa trên nhận thức của mỗi chúng ta, đó là một hiện thân của một nhu cầu cao hơn, mang tính chất bị động và có tính tuyệt đối hơn. Như vậy, “Tôi không muốn ngủ một mình” mang lại cho ta một cảm giác của sự cô đơn không thể nào kiểm soát được, như nó là một việc bị ép buộc, bị kìm hãm hơn là “Tôi không thích ngủ một mình” – một ca khúc nổi tiếng của Paul Anka.

Phim không có cốt truyện cụ thể, thuộc dòng phim “cảm giác”. Cả phim như là một thứ chủ đề vể nỗi cô đơn trong sâu thẳm - như những bộ phim khác của ông, là một cái theme của riêng ông, một bộ phim chỉ nhằm miêu tả cảm xúc thầm kín của bản thân đạo diễn cũng như những khán giả đón nhận nó. Bởi thế, phim Tsai Ming Liang luôn kén người xem và cần đến những khán trả trung thành của nó.

3 nhân vật chính : một kẻ vô gia cư, một người cứu rỗi, một cô gái. Cả 3 đều là những sinh linh cô đơn, tình cờ va đập vào nhau. Kẻ vô gia cư bị trấn lột ở đầu phim, vật vạ bên đường thì được người cứu rỗi khiêng về giúp đỡ. Cô gái chăm sóc cho một kẻ bị liệt, nằm bất động một chỗ trên chiếc giường trắng, đối diện với một chiếc gương. Họ câm như hến, không nói một lời nào cả trong suốt phim. Điều đó khiến cho I Don’t Want To Sleep Alone gần như trở thành một phim câm nếu không có âm thanh nền. Những nhân vật hầu hết không dc ai gọi tên, buồn cười và khó khăn. Phải chăng, cái tên gọi đó để làm gì khi mà mỗi người trong họ đều tượng trưng cho một thân phận thân quen ở đời, một thế giới quan của những người cô đơn, một lối sống cô đơn, một lớp người cô đơn. Hay cả thế giới đang cô đơn ? Đó là câu hỏi đau thương của Tsai Ming Liang.

Nội dung của phim không có gì rõ ràng và cụ thể cả, mọi thứ quá mơ hồ, đầy rẫy hình ảnh và biểu tượng, điều đó càng làm cho mỗi người sẽ có một cách nhìn nhận khác nhau về từng hành động, từng diễn biến của phim để tự tìm ra câu trả lời cho riêng mình. Để xem nào, xét về mặt chủ đề chính, cả phim là một sự cô đơn khó có thể chối bỏ và càng về sau càng tăng tiến cho đến tận cùng, dẫn đến sự bức bối và vẫy đạp. Mối quan hệ tay ba giữa ba nhân vật chính dường như do sự rúng động và cô đơn cùng cực mà có,người cứu rỗi xém giết chết kẻ vô gia cư. Mối quan hệ bế tắc, u ám và đồng tính. Câu hỏi đặt ra: quan hệ đồng tính chăng ? Cả phim ta thấy hai người đàn ông lo lắng chăm sóc cho nhau, từ từng cử chỉ nhỏ nhặt nhất.Có thể không ? Mọi thứ xảy ra như hệ quả của sự cô đơn quá độ, cũng như cái tựa phim – Tôi không muốn ngủ một mình – không ai muốn ngủ một mình cả, không ai muốn bị ám ảnh bởi sự cô đơn mãi cả. Những sinh linh không ai đếm xỉa và quan tâm phải dựa vào nhau. Cảnh cuối, 3 nhân vật ngủ bên nhau,sự cô đơn như bị bộc phá, chúng kết nối với nhau làm thành một khối thống nhất hoàn chỉnh và trôi mãi trên mặt nước tĩnh lặng. Liệu khi đó,họ có hết cô đơn ?

Con người luôn phải tìm lấy một mục đích, một chân lý sống của mình. Họ, những nhân vật cô đơn đang tìm kiếm những thứ bị đánh mất hay bị chà đạp trong xã hội hiện đại – tình yêu, tình cảm cho nhau, cũng như cái bản ngã của chính bản thân mình. Có thể nào giữa muôn vàn sự lạnh lùng mà đời sống đem lại, họ đã lạc mất mình và chìm đắm trong một thế giới của hư vô, của Nada, của nỗi cô đơn khó có thể chối bỏ. Họ lạc, và không cần nói ra thành lời để diễn tả điều đó. Họ đi đi lại lại, làm việc như trong vô thức, họ chìm đắm trong nỗi cô đơn nhất mực không nói thành lời, thành tiếng. Mà tại sao họ cần phải nói ra cơ chứ, cái thế giới ồn ào ngoài kia có đồng cảm cho thân phận của họ đâu, mà còn như càng khuếch tán cho sự cô đơn lan rộng. Cái câm nín đó càng làm cho nhân vật chìm sâu và dấn thân hơn trong nỗi cô đơn.

Như đã nói, I Don’t Want To Sleep Alone dường như là một phim câm, nếu đâu đó không có tiếng động, âm thanh của vạn vật xung quanh : tiếng quạt quay cô độc, tiếng cười nói ý ới, tiếng tạp nham của nhiều nhân vật phụ, tiếng oai ỏai làm tình,… Những âm thanh có vẻ không có tính xúc tác lắm cho câu chuyện, những âm thanh dường như vô nghĩa, lại làm tăng thêm cái tôi cô đơn của nhân vật. Những âm thanh ấy dường như càng bao bọc, giam ép từng thân phận trong cái cô đơn của cá nhân, của mỗi người. Cái bất động đáng sợ của tâm thế con người trái ngược hẳn với sự ồn ào âm ỉ của xã hội. Đó là biện pháp lấy động tả tĩnh mà Tsai Ming Liang đã thực hiện hết sức tinh tế trong phim. Ngoài ra, với những cảnh tĩnh thật sự, cái động trong âm thanh xuất hiện với mật độ gia giảm và nhường vào đó sự hiện diện của sự im lặng khách quan. Gọi là khách quan vì cái im lặng đó không hoàn toàn là im lặng, mà được phụ họa nho nhỏ bởi cái động trong âm thanh như đã nói ở trên và những tiếng rì rè tạp âm nặng trịch như búa tạ.

Sự cô đơn cũng được cô đọng trong từng góc quay, từng khuôn hình. Toàn phim, ta thấy Tsai Ming Liang toàn sử dụng những cú fix máy (có thể tạm gọi nôm na là khuôn hình tĩnh – 4 mép màn hình không động đậy) kéo dài đằng đẵng như trêu ngơi nhãn quan khán giả. Đó là thủ pháp riêng và quen thuộc của Tsai trong suốt những bộ phim của ông. Điều đó, thứ nhất là một cám dỗ và thách thức khán giả đến với tác phẩm và thế giới của ông. Nó dụ dỗ, thôi miên họ. Nếu họ thích, họ sẽ ở lại với tác phẩm của Tsai một thời gian dài, họ sẽ bị chinh phục và ám ảnh bởi nó. Vì thế, sự tĩnh trong góc máy ở phim Tsai sẽ cuốn hút những người kiên nhẫn và cô độc ở lại, họ sẽ như được bầu bạn và chia sẻ tâm tư.

Thứ hai, những cú fix máy, sẽ tạo ra một không khí cô quạnh trong tâm tư nhân vật và khuếch tán nó lên. Ở mặt này thì Tsai dùng hai thủ pháp : một là tĩnh và động xen kẽ, hai là tĩnh hoàn tòan. Dù kiểu nào thì góc quay không bao giờ di chuyển, để mặt nhân vật hành động bên trong, khi thì nhỏ nhoi, khi thì gần gũi. Thời gian dài đủ để nhân vật diễn thuyết bài ca cô đơn của mình một cách chỉnh chu. Ở thủ pháp thứ nhất, sử dụng nhiều góc quay rộng và sâu bao quát cả một vùng, nhân vật chính xen lẫn với những hình ảnh động, từ đó dẫn đến cái tĩnh trong cái động ở mặt hình ảnh, đúng cả về nghĩa bóng lẫn nghĩa đen. Sự chênh lệch động tĩnh đó, với khuôn hình cố định một cảnh duy nhất, máy tĩnh luôn tạo nên những hình ảnh và hiệu ứng bất ngờ. Nhân vật lầm lũi trong khuôn hình như nổi bật hơn với những cảnh động xung quanh, sự song hành của vật thể động và vật thể tĩnh bên nhau như đang khắc chế mà lại bổ trợ cho nhau. Sự cô đơn dường như tăng cao hơn bởi sự song hành đó, bởi vì có lẽ sự cô đơn cao nhất là khi nó hiện diện giữa một biển người. Nó còn khiến cho ta thấy được sự cô đơn trong xã hội và giữa những con người với nhau. Ngoài ra, những cú fix máy còn hiện diện trong những khung cảnh tĩnh lặng thật sự, với góc quay chú tâm toàn bộ cho nhân vật chính, khi đó nhân vật đang đơn thân độc mã không ai hay, không ai biết, như đang thì thầm với tấm gương phản chiếu bóng dáng của họ vất vưởng. Những lúc này,hình ảnh dc hiện ra đẹp hơn bao giờ hết, kết hợp với những âm thanh của sự vật – vang vọng đều đều - như đang im lặng thở dài, tạo nên một bầu không khí cô đơn khó có thể phá bỏ được, nó cũng giúp nhân vật được nhìn nhận sâu hơn ,như những khúc đối diện với chính mình, trong nỗi cô đơn vô cùng tận.

Thứ ba, khuôn hình tĩnh tạo nên một vẻ gì đó kĩ lưỡng và chăm chú hơn cho khán giả khi xâm nhập câu chuyện của Tsai, với bố cục nền hợp lý, tạo cảm giác mệt mỏi và gây bất động mọi không gian và thời gian. Nó giúp cho ta phải chú ý hơn đến từng cử động và hơi thở của nhân vật, săm soi từng hình ảnh, để một thoáng nhỏ cũng đủ làm ta rung động. Bởi vậy, dùng khuôn hình tĩnh luôn là một thách thức cho đạo diễn cũng như người quay phim, đòi hỏi một sự cẩn trọng và chu đáo nhất mực.

Thứ tư, những cú fix máy ấy của Tsai tạo nên những hình ảnh đẹp và đậm chất ciné, như khi ta bất chợt pause một khung hình lại cũng đủ cho ta một pô ảnh đẹp tuyệt vời. Những khung cảnh đen tối và hoang tàn,những bức tường nháp nhúa và tróc vẩy, những hành lang sâu hút và kín mít, những đường phố đông đúc và sống động. Và một hình ảnh tượng trưng tuyệt vời cho sự mô tả nhiều tầng nhiều lớp của nỗi cô đơn : ngôi nhà cao tầng bỏ hoang với những bậc thang vô cảm , vô tận và một hồ nước tĩnh lặng và bí ẩn bên trong.

Tiết tấu phim chậm rãi (dĩ nhiên rồi), chậm như người ta chơi một bản nhạc buồn với một cây cello. Ngẫm lại, thực ra không phải câu chuyện di chuyển chậm, vì bản thân Tsai có kể câu chuyện của mình theo cách cổ điển đâu, mà bởi vì nó đạt đến độ tĩnh để soi mói nội dung ẩn ý bên trong, vì thế nên nó chậm. Như thế, mọi thứ làm cho nhân vật càng ngập ngụa trong dòng nước sâu thẳm cô đơn và không đáy của bản thân họ.

Đó là sự kết hợp hoàn hảo và nhuần nhuyễn trong âm thanh và hình ảnh của Tsai Ming Liang, dùng nhiều thủ pháp để tạo nên hiệu ứng của riêng mình. Phim đơn giản ở một cách chừng mực, không zoom, không travelling, không lia, không kỹ xảo, không hành động li kỳ, chỉ có đi qua đi lại, chỉ có nhịp sống, chỉ có tiếng thở đều, cũng đủ làm ta phải kinh ngạc khôn cùng. Trong khi những nền điện ảnh lớn, với điều kiện tài chính cho phép, có nhiều tác giả lạm dụng kĩ thuật máy móc hiện đại, tạo ra những cú máy “biến hóa khôn lường” đến mức Jean Cocteau phải thốt ra một cách trách móc : “Tại sao phải travelling song song với con ngựa đang chạy, khi mà làm như vậy con ngựa lại có vẻ như đứng yên !?” ; thì Tsai Ming Liang, cũng như nhiều tác giả phim nghệ thuật hay độc lập khác, sống trong một nền điện ảnh nhỏ bé, kể một câu chuyện nhỏ nhắn, và có một kinh phí làm phim khiêm tốn, lại tỏ ra thông minh khi xử lí vấn đề, đem về tính hài hòa giữa nội dung và hình thức, tạo nên những hiệu quả bất ngờ cho người xem.

Tsai Ming Liang cũng đưa vào phim những hình ảnh, những chi tiết nhỏ nhoi như cánh bướm, một biện pháp nhằm đưa đến những thông điệp kín đáo hơn lẽ thông thường. Với toàn bộ phim, ta dường như thấy sự sống dường như bị đứng lại, không còn tồn tại, bị cuốn trôi đi bởi những thứ vô nghĩa. Nhưng với hình ảnh cánh bướm đẹp đẽ khôn cùng đó, nó mang đến cho ta sự bình lặng nhất mực của sự vật, của sự trống rỗng, đó là khỏanh khắc tối cao, đó là sự đơn giản và cụ thể hóa nhất của sự cô đơn mà ở đó, với sự vỗ cánh dập dìu của con bướm, sự trống rỗng sẻ sản sinh ra nhiều thứ vô hình. Như vậy, qua chi tiết cánh bướm, qua cái tĩnh, qua cái trống rỗng ấy, ta biết mọi sự đã bị đưa đẩy đến tận cùng, và ta còn biết có một sự vận động mạnh mẽ nơi sâu thẳm tâm hồn người. Có thể nào, một cách lý giải khác cho hình tượng con bướm, là một hình ảnh tượng trưng cho sự ảo tưởng và không xác định, một sự mơ hồ, hay tựa như một giấc mơ.

Chỉ riêng nói về cảnh ấy đã làm cho cái cô đơn thêm đáng sợ. Việc gã vô gia cư ngồi câu cá với cánh bướm trên vai càng làm cho việc xây dựng hình ảnh của bộ phim thêm phần hoàn hảo. Ta thường nói, câu cá là để tâm thức tĩnh, như mặt nước hồ vậy. Sợi dây câu, như là sợi dây của tâm thức, nối kết với sự cô đơn quá độ, sự tĩnh lặng quá độ dưới mặt nước hồ. Như vậy, sự cô đơn đang được mặt đối mặt với nhân vật và như đang bổ sung cho nó, truyền tải cho nó thêm phần khốc liệt. Cánh bướm chỉ là giọt nước làm tràn li khi thể hiện cái đỉnh cao nhất của sự việc. Cái đỉnh cao ấy là một tiền đề cho cái kết phim.

Hai nhân vật : người con bại liệt dc chăm sóc bởi cô gái và người vô gia cư được đóng cùng một diễn viên. Điều đó như một hằng số được song hành với nhau, đều là những người không nói ra một lời nào cả, đều được sự chăm sóc của người khác. Đó là sự bị động, sự tê liệt trong tiềm thức con người hay trong nỗi cô đơn trước lối sống hiện đại. Cả hai đều được quan tâm chăm sóc cẩn thận, tuy nhiên bản chất của sự quan tâm khác nhau rõ rệt. Với người vô gia cư, đó là sự quan tâm chân thật, còn với kẻ bại liệt, đó là sự máy móc và có phần giả dối của cô gái, khi cô bị bà mẹ cưỡng ép : xoa dầu, thủ dâm cho đứa con trai. Sự thủ dâm tỏ ra nhớp nhúa với cánh quạt quay qua lại trái phải một cách đều đặn và đáng sợ, sự việc được lặp lại trùng lặp khi người vô gia cư thủ dâm cho bà mẹ ở một ngõ hẻm vắng. Và những thứ liên quan đến tình dục đó được đẩy mạnh vào cảnh cô gái làm tình với kẻ vô gia cư ở cuối phim. Như vậy, mối quan hệ giữa các nhân vật hầu như đều kết nối với nhau qua hình thức đó là dục vọng. Cô gái thường quan sát đứa con qua khe hở trên nền nhà, cô cùng bà mẹ nắm tay mà thủ dâm cho đứa con, cô quan sát kẻ vô gia cư khi hắn đùa giỡn với những cái li. Kẻ vô gia cư quan sát cô gái ở ngòai quán nước. Đó là sự xây dựng tình huống một cách tĩnh lược nhất để nói lên mối quan hệ tình cảm của nhân vật. Cũng như với người cứu rỗi và kẻ vô gia cư, mối quan hệ được miêu tả bằng những hành động cử chỉ nhỏ nhặt : bịch nước, cái giường, sự song đôi khi ngồi cùng hồ nước lặng lẽ. Tsai Ming Liang dùng sự tối giản ấy để tạo độ ‘nặng’ cho câu chuyện, làm người xem phải suy nghĩ hơn khi chìm sâu vào thế giới của bộ phim để tìm ra mối liên quan và đào sâu hơn vào phần hình ảnh và ý nghĩa của nó.

Đầu phim, ta thấy đứa con bại liệt nằm im lặng, cửa sổ mở và chiếc rèm thấp thoáng rung động. Radio phát ca khúc nào đó bằng tiếng Thái mà tôi không hiểu, nhưng đoán có lẽ là một bài hát về bộ mặt con người. Có thể nào cả phim chỉ là một ảo ảnh, một giấc mơ của sự bị động trong cô đơn của đứa con bại liệt, sự chuyển hóa tinh thần thành một cá thể thực ngòai cuộc sống, sự phân thân của tâm thức con người. Điều đó cũng có thể giải thích việc một người đóng hai vai. Chúng ta biết, sự ham muốn được biểu hiện trong giấc mơ thường là những ham muốn bị cấm đoán, hay không thể thực hiện được ở hiện tại. Những ham muốn vô thức ấy luôn chờ cơ hội để được bộc phát. Đó có thể là sự ham muốn của đứa con bại liệt, được chuyển hóa thành một giấc mơ hay kinh khủng hơn, một nhân vật giống i đúc ngoài xã hội. Để làm gì ? Để được yêu và làm tình thật sự với cô gái. Để thỏa mãn dục vọng của hắn. Để được tự do bay bổng ngoài xã hội. Nhưng, dù như vậy, sự cô đơn vẫn không thể bị hóa giải. Sự cô đơn ấy, nó đều là cội nguồn của mọi chuyển biến nhân vật trong phim. Điều đó có thể cũng đúng nếu xét thêm về mặt cánh bướm là hình tượng cho ảo tưởng và giấc mơ như trên. Khi người vô gia cư đang đối mặt với cái hồ nước tĩnh lặng, cánh bướm dập dìu lay động, sự cô đơn là kết nối của hiện thực và giấc mơ, cái ranh giới mỏng manh ấy. Hồ nước và chiếc gương trong phòng đứa con bại liệt có thể là hai mặt của hai thế giới thực và ảo. Ở đó, người vô gia cư nhìn vào hồ thì người con bại liệt được phản chiếu lại nơi tấm gương. Họ chỉ có một hình thể hiện hữu duy nhất, một “cục” cô đơn.

Nếu xem xét theo chiều hướng ảo này, ta còn có những phát hiện kinh sợ hơn nữa. Quan hệ đồng tính lúc này dường như tỏ ra có lí hơn. Hai người đàn ông giống hệt nhau được coi như là sự chuyển hóa do ham muốn dục vọng. Có lẽ nào, cô gái, dưới những sự cưỡng bức, đã dần dà trở nên ham muốn tình dục với đứa con bại liệt mà nguyên do có thể là sự tò mò trong vô thức và sự ám ảnh về dục vọng một cách ảo tưởng, và nhân vật người cứu rỗi là do cô gái chuyển hóa thành. Câu hỏi đặt ra : Nữ thành nam. Tại sao ? Sự ức chế và bế tắc trong cuộc sống, sự coi thường thân phận phụ nữ hiện hữu đầy rẫy nơi phố xá, có lẽ đã hình thành nên một thôi thúc chuyển giới trong cô. Điều đó có vẻ cũng có lí, nếu như ta xét một vài cảnh trong phim : cô gái (cùng bà mẹ) thủ dâm cho đứa con, sau đó cảnh chuyển qua hai người đàn ông đối mặt nhau nhìn qua nhìn lại một hồi, rồi sau đó lại chuyển cảnh qua cái hồ nước (kết nối thực và mơ) ; hay ở một cảnh, ta dường như thấy có vẻ người cứu rỗi đang đi tiểu ngồi (hay tôi sai – hắn đang đi ị hay sao ? – mà tôi chỉ nghe tiếng nước chảy).Và trong khi cô gái đang chăm sóc đứa con bại liệt thì người cứu rỗi lại đang chăm sóc kẻ vô gia cư. Cô gái dùng nước lau mồm lau miệng cho hắn thì người cứu rỗi kéo quần cho gã vô gia cư đi tè và dùng nước giặt quần lót cho hắn. Những hành động song song và giống nhau có thể là ẩn ý của tác giả chăng ? Sự chuyển hóa hoàn toàn được toại nguyện : kẻ vô gia cư làm tình với cô gái, còn người cứu rỗi gầy dựng được mối quan hệ với kẻ vô gia cư. Sự khát khao dục vọng đầy rẫy trong phim. Tuy nhiên,một câu hỏi cuối lại được đặt ra : Nếu thế thì tại sao nhân vật cứu rỗi lại tỏ ra ghen tị khi kẻ vô gia cư ngủ với cô gái ? Chẳng phải, cả hai là một sao ? Đó chính là sự phá bĩnh, một sự phá bĩnh tuyệt vời của ảo giác và giấc mơ. Có thể nào, những bản sao đã gặp nhau và đụng độ trong một mê cung chằng chịt của cái vô thức đó. Cái thực và cái ảo gặp nhau đã gây nên những ức chế kinh khiếp, một sự đấu tranh, vận động mạnh mẽ trong sâu thẳm tâm hồn người, như hình tượng cánh bướm lúc đó dập dìu khẽ bay và sau đó va đập vào mặt nước hồ nhiều lần, như sự va chạm thực và ảo, mơ và tỉnh, với việc người vô gia cư câu cá ở hồ nước. Ở gần cuối phim, người con bại liệt đã nhìn trừng trừng mắt lên trần nhà trong lúc kẻ vô gia cư nhìn xuống qua khe hở. Cái thực và ảo gặp nhau. Giấc mơ và hiện thực đối mặt đều gây ra những đỉnh cao chấn động : cánh bướm dập dìu, sự ghen tuông, sự làm tình.

Từ đó, ngoài nỗi cô đơn ngự trị trong phim, ta như còn thấy một sự chao đảo, bất ổn và phức tạp trong tâm hồn và bộ não con người, cùng những ham muốn ngự trị trong tiềm thức. Cả phim là một mê cung chằng chịt và đen tối. Ta không thể nào tìm được đường ra. Trong cái chốn ngã ba nhìn ra ngã bảy đó thì họa chăng chỉ có Bùi Tiên Sinh sống dậy mới có thể giúp ta thôi.

Một ý nghĩa khác của bộ phim là sự khao khát tự do. Người con bại liệt đã mơ một giấc mơ để thoát khỏi tình cảnh bi thảm của mình, một sự mong muốn tự do thầm kín trong tâm thức hắn. Sự khao khát tự do còn được thể hiện ở nhiều chi tiết. Như biện pháp đặt song đôi hai hình ảnh: Một người chuyển động ngoài xã hội, một kẻ nằm im lặng cái giường vô tri vô giác. Bằng mọi thủ pháp, Tsai Ming Liang làm ta phải nghĩ rằng : “Thật sự thì chúng ta bị giam cầm bởi cái gì ?” Nỗi cô đơn ? Xã hội ? Bệnh tật ? Mọi người đều bị giam cầm bởi một thứ gì đó và khao khát tìm đến tự do. Như bà mẹ của đứa con bại liệt bị giam cầm ở nhà để canh chừng đứa con, chung qui là vì tình mẫu tử. Và, người vô gia cư, là một người ngọai quốc, hắn cảm thấy như bị giam cầm trong cái nghèo đói ở đất nước cũ cho nên mới chu du sang Malaysia tìm chỗ đứng. Và rồi hắn nhận ra rằng hắn không thể thay đổi số phận của bản thân. Hắn vất vưởng, không hình hài xác định. Không biết đi đâu, kể cả nhà mình... Về hình tượng con bướm, có thể thấy rằng đó là một con vật tự do bay lượn, nên chúng ta không tài nào bắt được nó, cũng như số phận tự do vất vưởng của người vô gia cư vậy. Và khi chúng ta nhận ra rằng, ta không thể nào bắt được con bướm thì cũng có nghĩa rằng, tự do là một thứ có thể đạt được và không thể nào bị giam cầm được.

Ngoài ra, ta có thể thấy còn vài dụng ý trong bộ phim để ám chỉ những vấn đề của sự phát triển điên rồ và vô cảm trong xã hội ngày nay. Ví như cơn cháy rừng ở Sumatra khiến khói mù bao phủ thành phố. Thứ nhất, nó đem đến sự nhập nhòa giữa thực và ảo, tô điểm thêm sự lùng bùng đó. Thành phố đã đen tối nay càng chìm trong sự mờ mịt. Cái mờ mịt đó như là một hiệu ứng về mặt khứu giác và thị giác nhằm bậc ra cái tính thời sự, cũng như cái hơi thở cuộc sống trong phim. Thứ hai, ta thấy đó là một cơn khói mù từ Indonesia (Sumatra). Con người gây ra muôn tội tình để xây dựng nhà máy, xí nghiệp, … Cơn khói vượt khỏi biên giới Indonesia lan ra đến tận Malaysia, cũng như hình tượng người vô gia cư vượt khỏi đất nước mình để nghĩ về một thế giới mới và triển vọng. Đó cũng nói lên rằng cuộc sống con người ngày càng ‘khó thở’ do luồn không khí bao bịt bởi những thông tin đại chúng, kinh tế, … Nếu xét thêm tí nữa, ta sẽ thấy ngôi nhà cao tầng trống vắng đó cũng là biểu tượng ám chỉ cho một nạn nhân của sự phát triển hiện đại quá mức đến nỗi bỏ quên con người. Nhà cao tầng mọc lên càng nhiều, càng ngày càng cao hơn, ngôi nhà cao tầng đấy chưa kịp hoàn chỉnh thì đã bị che lấp và phải trở nên dang dở, bỏ hoang. Đó là một lời cảnh tỉnh xã hội của Tsai Ming Liang.

Diễn xuất trong phim thực sự là một điều khó nói. Những khó khăn như : việc một người hai vai vốn dĩ đã phần nào gây khó khăn cho Kang-sheng Lee trong việc hòa nhập hơn vào vai diễn, cộng với việc buộc phải câm nín hoàn toàn khiến cho những nhân vật chính sẽ rất khó để bộc lộ ra mọi cảm xúc. Nhưng, thật sự phải công nhận - trong tầm hiểu biết hạn hẹp của tôi - mọi diễn viên đều diễn xuất khá tốt, phù hợp với bầu không khí của phim. Những gương mặt trầm mình với cô đơn được khắc họa rõ nét. Một trong những cảnh đặc biệt đáng nhớ là cảnh người cứu rỗi định giết chết người vô gia cư, qua ánh mắt, qua nét mặt, ta thấy một cảm xúc dữ dội trong tâm can. Cảnh làm tình khó khăn cũng khá ấn tượng và đầy xúc cảm. Và ta thấy mọi diễn viên đã rất can đảm khi thực hiện những cảnh quay nặng nề về dục tính như việc cởi quần đi tè xem chim, thủ dâm , ….

Khi "tôi không muốn ngủ một mình" kết thúc, tôi nằm lăn ra giường, trên một tấm nệm, chuẩn bị cho giấc ngủ của chính mình. Chuẩn bị cho buổi sáng hôm sau, cho ngày hôm sau, cho nhiều ngày tiếp sau, cho nhiều tuổi tiếp sau với ồn ã xe cộ, ồn ã bài vở, ồn ã quán xá, ồn ã những tia hằn thù, ỗn ã những tiếng cười phớ lớ, ỗn ã những ồn ã...Tôi thấy gai người. Thay vì cơn buồn ngủ, sự huyễn hoặc kéo đến dắt tôi đi vào cái không gian của khu nhà xây dở ấy. Tôi nhắm mắt và tưởng tượng mình là ai trong ba người số họ? Gã người cứu rỗi, kẻ vô gia cư hay cô gái? Ở vị trí nào tôi cũng cần có một sự kết nối, không ai cả nên tôi kết nối với chính mình bởi tôi biết “từ chiều sâu của thế giới riêng mình, từ chiều rộng của nỗi cô đơn riêng mình, mà nỗi cô đơn tự nó đã là công việc, là chức vụ, là nghề nghiệp ? Cớ sao phải đánh đổi cái vô tri hiền triết của đứa trẻ lấy chống đỡ và khinh bỉ, trong khi vô tri là riêng một cõi, còn chống đỡ và khinh bỉ chính là tham dự vào chỗ mà chính mình muốn thoát ra bằng cách dùng chúng là phương tiện...” (trích Thư gửi một nhà thơ trẻ của Rainer Maria Rilke ) . Thôi thì tôi là chỉ là cánh bướm nhỏ đến và đậu trên vai Tsai Ming Liang. Nói với ông một câu: Tôi không thể ngủ trong khi, sau khi bộ phim của ông mở ra cơ hội được nhìn ngắm soi mói chính nỗi cô đơn của tôi.

Thứ Hai, 4 tháng 1, 2010

Tết Tây đã hết...Mong chờ Tết Ta...

Tổng kết 3 ngày đầu năm mới 2010.

Ngày 1/1/2010 : Số đẹp,đi Nguyễn Kim mua cái Nokia N97Mini,dc tặng một thùng Pepsi.Công nhận cái điện thọai cảm ứng này xịn thật.Sau đó đi ăn trưa cùng vài người bạn của má mình và má mình ở một cái quán tạm được.Ăn lẩu,bò,heo,kem.Hên là không bị đau bụng.Chiều ở nhà làm bài tập,chơi tí Xbox360 vừa sửa và viết chút ít vào cái bài Review dài dòng sắp tới.

Ngày 2/1/2010 : Sáng đi siêu thị sắm đồ và vào Tax Center mua đồ gốm tặng quà đám cưới.Vào Nguyễn Huệ kiếm vài cuốn Freud nhưng không có.Chiều ngủ,tiếp tục làm bài,chơi Xbox360 và rặn thêm tí vào bài viết.

Ngày 3/1/2010 : Đi xe (hơi) đến Bà Rịa ăn đám cưới.Trong lúc đi có dừng chân ăn sáng Bún bò Huế và ngồi bắt tí Wifi chùa ở một quán Cafe trực thuộc Bà Rịa.Ăn xong đến chiều ghé chân nơi quê nhà Long Hải,ngủ một giấc rồi về.Trên đường về ghé Bò sữa LT,ăn Bánh canh rồi mua vài món ăn chơi.Tối về mệt lả lại chuẩn bị bài thứ 2 (tức hôm nay) đi học.

Xong 3 ngày ăn chơi vui vẻ khỏe re và xả láng.

À quên,ngày 31/12/2009,ngày cuối cùng của một năm dài đằng đẵng,mình đi kiếm vài phim.Tiếc là chỉ có 1 DVD dc tìm ra.Buồn bỏ mẹ.