Thứ Bảy, 25 tháng 12, 2010

Sài Gòn đêm Noel trắng

Sài Gòn
đêm Noel trắng
anh biết được
ta có thể lấp đầy bụng bằng những hư vô
ví như thời gian đợi chờ
    như cuộc đời
    như sự chết
-dù chỉ có nó mới chia rẽ đôi ta
sinh ra vốn là hai mảnh
là vua là chúa
là áo bào là long tử
Chúng ta yếu dần đi từng ngày sống
bỉ dần đi
chết dần đi.

Sài Gòn
đêm Noel trắng
Anh tự hỏi liệu em có còn thức trắng đêm ?

Nhìn đêm trắng
nhìn đèn trắng
cột điện trắng
cuối ngõ không màu
đầu phố thơ ngây
trắng bay đi
còn anh bất tận.

Anh tự hỏi
dù rằng anh biết được câu trả lời
chỉ có Chúa mới biết
_Liệu em có còn thức
                      để thức trắng đêm ?

Anh nhìn cốc café đen màu
                              đen mùi
                              đen cả da thịt
lầm lũi trên đường
nhìn ánh sáng hoang mang lo sợ
của những đôi tình nhân
chèn tay qua bẹn
chèn tay qua vú
chèn tay vào nhau
để đánh rớt
trái tim mình.

Sài Gòn
đêm Noel trắng
Anh nhớ về em
mắt em buồn
buồn sâu hoắm
buồn đến u mê.

Mười hai giờ Chúa
Chúng ta đi bay - họ nói
Anh ngủ một mình
Chúng ta đi say, chưa say chưa về - họ bảo
Chúng ta đi Nhà Hát, đi Tao Đàn, đi Sở Thú - họ reo
Chúng ta đi ăn cá viên chiên, ngồi quanh chai Rượu uống bật Nếp nồng - họ cười
Chúng ta đang đi ăn tự do đấy ?
Chúng ta đang đi ăn chúng ta đấy ?
Anh thì ngậm móng tay
nuôi lớn hình hài ủ dột

Anh tìm Chúa để hỏi rằng
Liệu em có còn thức trắng đêm ?
Nhưng anh không tìm được ông ấy
Anh chỉ thấy
Nhà tang lễ - không màu
Em thì hữu hình
Anh hư vô.





cảm nhận ánh sáng ngày mai. ngày mai dài bao nhiêu - giờ - thể kỉ - vô tận
Khiếp, cái ánh sáng của thành phố về đêm giết chết con người ta

Thứ Tư, 15 tháng 12, 2010

15/12/2010

Sáng sớm, cổ họng thét, lỗ mũi câm, nghĩ ra hôm nay nghỉ. Rờ rẫm tưởng thời tiết lại đẹp đẽ như hôm qua, ai dè nắng lên tràn đầy cửa sổ. ai đưa tôi đi trốn những giày vò ngày mai ?
hóng hớt, tí choáng.

giã từ lenin.

Thứ Bảy, 11 tháng 12, 2010

Bây giờ tháng mấy ?

Sinh nhật ngày 9, ngồi một mình ở Nhà Hát Thành Phố, ăn mì tôm ở K Shop kế bên, nhấm nháp vài thứ không nên nhấm nháp cho cuộc đời, một gói Mal Black Menthol, một chai SG đỏ, nhìn phố xá quay vòng.Trời đứng gió, những chiếc ghế đỏ trông lạc lõng giữa hàng bụi dày và những ánh đèn bay.

Con người sinh ra vốn chỉ một mình.

Ngày 10, dài đằng đẵng, mệt mỏi đến mức có thể cứa cổ đi là vừa. Nghe nhiều người nói đến cái chết, tự tử - như một biện pháp trừng phạt bản thân, dưới sự đè nén - của cái bóng gia đình. Tôi cũng không biết nữa, mỗi lần nghĩ đến cái chết, tôi dùng bút vạch lên những đường thẳng thiếu kết nối, giữa động mạch chủ ở cổ tay, nhìn và cười một lúc lâu. Cái ý niệm chết tự dưng chấm dứt. Mặc dù tôi vẫn luôn nghĩ rằng, trong một chừng mực nào đó, chúng ta đang đối diện với cái chết của chính mình, chứ không phải sự sống. Sinh ra, con người vốn đã nằm trong một cái quan tài khổng lồ, chỉ còn chờ người đóng nắp và chôn cất. Thế rồi thối rữa.

Tối đi lêu bêu, chạy đến PĐC giữa lòng thành phố, ăn lẩu Dê, thổi phù phù, trào nước mắt. 8h chạy cùng má Angel đến Acoustic coi 6789 diễn. Đông, quán nằm cuối ngõ. Hết chỗ, bày biện lên cái quầy bar. Bên cạnh, che lấp sân khấu là một cây thông nhân tạo dưới những chiếc đèn nhỏ liti đỏ lòm, tấm bản Heineken uyển chuyển đổi màu, tựu trung lại là một màu xanh kiêu hãnh đặc trưng. Không kêu Bia hay những chai rượu chỏng chờ trên giá, kêu một li Irish, má Angel uống cái thứ đồ uống gì xanh lòm hem biết, trông say mê. Nghiêng ngả một hồi nhớ đến Vương Gia Vệ. Đầy sắc màu.

Band nhạc chưa biểu diễn, quán mở một hỗn tạp nhạc, nhảy nhót từ Starry Starry Night của Don Mclean cho đến lũ Nu metal ồn ào méo mó. Lắc qua lắc lại cái vòng đeo tay má Angel mới tặng, thơm mùi tự do tự tại, kéo lòng thòng theo những sợi dây vốn chẳng thèm ràng buộc chi nhau. Thổi phì phèo Mal đỏ bao mềm, mùi buồn nôn xộc đến mũi, bình tĩnh đi nào, cái ghế bar trông vững chắc nhưng xập xệ, nhìn người, nhìn cái tủ lạnh trưng đầy thức uống có cồn.Mũi đập vào lớp vân giả gỗ trên quầy, đu đưa. Đấy là khi band nhạc chưa diễn.

Ngồi đó chờ, từ 8h đến 9h không phải là một quãng thời gian lâu cho lắm. Cười lên nào má Angel, ừ thì cười lên nào má. Họ diễn rồi kìa. Cửa ra vào đóng kín, những kẻ đến sau đứng tựa lưng vào nhựng vệ đá cửa sổ, tựa lưng vào nhau, cầm trên tay những chai bia ướp lạnh. Không khí sặc sụa mùi khói thuốc. Cũng hay, màn khói u uẩn, bao lấy hồn vía anh chàng ca sĩ cầm cây guitar điện. Anh đánh acoustic xa nhất, tóc xù. Drummer bị che khuất. Tôi ngồi gần anh chàng bassit, mái tóc đuôi ngựa không dài lắm, vắt sang ngang, mặt ngạnh. Má nhìn kìa, trông chàng ca sĩ giống Đỗ Văn Hoàng phết nhỉ. Má Angel cười. Thuốc lá vẫn chưa tắt.

Và đó, họ chơi. Đèn lấp lóa, lõa lồ. Xung quanh, đám đông u uẩn, mê say. Band nhạc chơi, đam mê, sáng tạo, hết mình. Cái giọng nói gặt gừ của anh ca sĩ làm tôi buồn cười, nhưng khi cất tiếng, ai cũng như nghễnh ngãng , họ quên rằng còn đó những 'âm thanh và cuồng nộ'  ở thế giới thật. Họ đắm chìm. Họ xoay, xoay, trong đầu.

Những thứ hiệu ứng lạ lùng lặp đi lặp lại từ anh chàng bassist. Nghỉ giữa bài, anh tranh thủ hốt trọn một cốc trà đá, hút một điếu thuốc như thở phào qua đằng mũi, nụ cười ám ảnh lạ lùng. Tay ca sĩ kiêm guitar réo lên những tiếng đàn dữ dội, tóc đẩy qua một bên, miệng cũng cười, nụ cười thỏa mãn.

Thế rồi hết. Những thứ âm nhạc lạ lùng, đẩy qua lại từ Funk cho đến psychedelic, rồi thoáng đãng latin, post rock, classic. Và còn đó ngọn lửa đam mê.

Không muốn 'Rock xuyên màng đêm' =)). Band nhạc cũng mệt nhòa, tiếng vỗ tay nhiệt liệt, tôi nép mình qua những cái bàn tam giác nhỏ nhoi, ngộ nghĩnh với đám người cùng vô số kẻ giả dối, đi lang thang đơn độc trong ngõ tối, vừng sáng lẻ loi trên cây đèn đường nhá tắt liên hồi, tạo một thứ nhịp điệu trông phiêu diêu đến lạ. Đạp xe về sau một hồi vật vã (nó để xe tôi tuốt ở trong, và là chiếc xe đạp duy nhất hiện hữu ở đấy), về đến nhà trong nỗi lo sợ đâm phải một cái gì đấy, tệ hơn là một ai đấy, vì thắng xe đã mòn. Nắm vật vã ra đất, nôn vài chập, rồi lăng ra ngủ. Đã hơn 11 giờ đêm.

Bây giờ là 3 giờ chiều ngày 11 tháng 12, năm 2010. Tôi được 17 tuổi 2 ngày rồi.

17 tuổi !
Đèn điện giữa nhà mưa tuyết trắng
Tôi một mình trên một cõi toàn băng
.
.
.

tôi gục giữa đêm đen gà chửa gáy

(Trần Dần)

Chủ Nhật, 5 tháng 12, 2010

Thứ 7 với Harry Potter 7

Chiều, giờ cao điểm, bụi mù, chạy lòng vòng quanh công viên Hoàng Văn Thụ hai lần mới tìm ra nơi cần đến. Chửi thầm trong bụng, mẹ kiếp, Nhà Xe, cứ tưởng lớn lắm chứ. Khi nghe Q nói, đầu tôi hình dung ra một tấm bảng Trung Dũng to oành, màu mè diêm dúa, với những ánh đèn lấp láy liên hồi, trưng ra những cơ ngơi nào xe nào cộ, người vắng - bóng xe nhiều. Nào ngờ.

Cửa hàng hẹp chật như hũ nút, đông người, xe chắc đi tản cư. Hàng hóa đóng thùng văng tứ tung. Nền gạch đen và nhớp nháp. Tôi nhanh nhảu hỏi một gã trai về thứ mà Q gửi từ Buôn Mê về - một đống sách cũ, bèm nhèm, mốc meo.

Lấp bấp nói lộn số điện thoại, gã trai liếc mắt và hỏi gặng lại, hên là trí nhớ u uẩn lại kịp nhanh bừng sáng. Đem sách về, gói trong một bọc ni lông mỏng tanh, hôi mùi nhớt.

Má mình chửi sau khi liếc sơ qua gói sách : Mịa, tao nhớ hồi đó tao đã có cuốn này rồi (Như thế bình minh của Roblex), mà mày cứ mè nheo đòi bán vì tanh mùi gián, vì hôi mùi bụi, vì cũ kĩ, thế là tao tống khứ cho đám ve chai, bây giờ mày lại lôi một cuốn i như đúc (nghĩa là cũng cũ kĩ, tanh mùi gián) về. Mày đang trêu tao à ?

Tôi cười trừ và tự hỏi : Hồi đó là hồi nào ?

Tôi đang cố nhớ lại trong khi rảo chân vào cái phòng chiếu to đùng của Galaxy Nguyễn Trải, hôm nay đông, cứ tưởng người ta mải mê ở nhà xem đá bóng. 8h là chiếu, người ta nói thế, tôi đồ rằng phải đến 20 phút sau cái logo 20th century Fox mới hiện lên cho đúng nghĩa, đám người vô trễ thi nhau lướt qua màn hình, để lại những vệt đen cho văn hóa đúng giờ ở xứ ta.

Phim bắt đầu với một cú cận cảnh đôi mắt, một lời hứa hẹn của Bộ Trưởng Bộ Pháp Thuật, một thứ tréo nghoe với toàn bộ câu chuyện, nhưng lí thú với cái cách mà mọi giá trị, mọi lời tuyên ngôn được họ đặt ra hoàn toàn sụp đổ trước cái bóng quá lớn Voldermort án ngữ. Cái bóng của Chúa tể Hắc Ám, của kẻ-mà-ai-cũng-biết-là-ai-đấy. Của cái Ác.

Tôi cười ngay từ phút đầu tiên. Vì cái lời hứa hẹn ‘sẽ bảo vệ mọi người’ vừa mới đây của vị Bộ trưởng lại được nối tiếp bằng những dự cảm, lo âu về một thời kỳ đen tối đang đến, một người bị giết. Con rắn Nagini chồm vào màn hình.

Phim u ám. Với cái tone màu đen kịt của nó. Với cái thứ âm thanh ồn ã tạo nhịp điệu tiết tấu dồn dập không ngừng xuyên suốt phim, với những tiếng radio và tạp âm len lỏi xuyên suốt hành trì cứu thế của HP. Duy có lẽ còn đâu đó những nét chấm phá mang lại thứ tình cảm ấm áp, với tone màu tươi hơn, sáng hơn, khiến cho phim còn đó những khoảng lặng tách biệt khỏi những bắn phép liên hồn, những máu, những cú liếc và những cơn hằn giọng, những máu và nước mắt.

Người ta gọi HP7 là một 'road movie', có nghĩa là toàn bộ bộ phim xoay quanh một chuyến hành trì xa nhà, một chuyến đi chẳng biết về đâu, một chuyến đi thay đổi mọi thứ. Lạy Chúa, nhờ thế, tôi có thể thoát khỏi những không gian bức bối trong tòa lâu đài Hogwart như những phần trước. Nay, những cảnh toàn được trưng dụng như một biện pháp nhằm miêu tả cái sự vô tận và (mỉa mai thay) bế tắc của chuyến đi,hơn nữa, thời gian trôi qua, bốn mùa biến đổi và muôn vật cũng nhòa dần cùng những sắc màu bên trong, như một mạch ý ngầm bổ trợ cho diễn biến tâm lý của nhân vật.

Song le, theo tôi, nhân vật luôn là một thứ nhạt nhòa trong các bộ phim Harry Potter. Mọi thứ tính cách nhân vật không bao giờ phát triển một cách đúng đắn mà cứ phải nương nhờ vào mạch truyện đưa đi. Hoạt động nội tâm chưa rõ nét, ngôn ngữ nhân vật được xài xể triệt để nhắm 'nói' lên tính cách nhân vật. Phần vì dung lượng phim ảnh khá ngắn để lôi ngồn ngộn cà diễn biết câu chuyện lẫn diễn biến nhân vật vào bên trong.

Việc chia cắt làm hai phần có lẽ cũng để khai thác hết mọi dung lượng câu chuyện cần phải có, cần phải giữ. Có lẽ, phần này là phần đầy đủ nhất, và theo tôi, tôn trọng tác phẩm gốc nhất - cho dù với một tác phẩm chuyển thể. Có lẽ vì đây là một bộ truyện, một thứ hổ lốn với quá nhiều chi tiết kết nối giữa các phần. Và việc giữ sao cho i xì nguyên bản là điều có lẽ là khôn ngoan nhất.

Tuy nhiên, việc chia làm hai phần cũng phần nào mạo hiểm, làm sao để người ta có thể đẩy mọi kịch tích và nút thắt ở đoạn kết phần này, nhưng vẫn để dành chúng cho phần tiếp theo. Làm sao nó có thể khơi gợi lên một thôi thúc để khán giả tiếp tục đồng hành ở phần hai. Mạo hiểm. Tôi thấy mạch phim đều đặn, ừ thì dồn dập thì có đó, nhưng gắn kết không đúng, sự bắt nhịp lẫn nhau không hoàn hảo, mọi thứ trôi qua cứ như không. Có lẽ đó cũng là mạo hiểm cua Rowling khi cố gắng đưa quá nhiều diễn biến vào truyện, nhưng chưa đủ đô, chưa đủ độ chín để người ta có thể nhớ lâu về chúng.

Phim nghiêm trọng, có những đứa trẻ đã khóc toáng lên và ba má chúng lật đật đưa về trong những ánh mắt khó chịu từ khán giả. Quá nhiều người chết, và điều đó khiến câu chuyện trở nên nhàm chán. Có lẽ một áp lực cho chính mình của Rowling, một kì vọng rằng ra đây sẽ càng ngày càng trưởng thành trong cách viết khiến Rowling đi sai đường, từ một câu chuyện trẻ em thú vị và chân thật, càng ngày bộ truyện càng đẩy cao tính 'nghiêm trọng' phần nào giả tạo của nó lên, đẩy quá nhiều nhân vật vào, và có lẽ không thể khai thác thêm gì từ họ nữa, Rowling đẩy họ đến cái chết. Có lẽ, cái chết không phải là thứ duy nhất làm nên độ nặng, độ trưởng thành của một tác phẩm. Và vì thế, cái không khí u tối trong câu chuyện chỉ làm nên từ những chi tiết, những thứ bề mặt nhiều hơn là từ bên trong. Lên phim, vì sự đồng bộ giữa hình thức và nội dung đòi hỏi đạo diễn phải che phủ bằng một tone màu tối, nhưng tôi vẫn thấy những yếu điểm, những hành động không cụ thể, những thứ nửa vời, những máu và nước mắt giả tạo.

Tôi hoàn toàn không thích diễn xuất của Daniel, những đoạn nổi giận của anh được biểu lộ trăm lần như một, những đoạn gầm lên hằn học cứ như nhau, lập đi lập lại. Emma Watson có phần khá khẩm hơn, nhưng sự non nớt vẫn có thể thấy rõ với những đoạn diễn vẫn còn khá đơ và giả. Rupert Grint là người tôi khoái nhất, không hiểu vì sao.

Phim kết thúc, thời lượng dài hơi khiến tôi mệt mỏi, cộng thêm việc có vài thằng cha có lẽ đi xem phim chỉ để khoe mẽ cho bạn gái hắn là ta biết hết mọi thứ về Harry Potter - nên cứ bô bô giữa phim rằng thằng này thế này thế nọ, con nọ thế này thế kia. Ừ thì tao biết cái thằng trắng nhác lỗ mũi kì dị đó là Voldermort rồi, cần gì mày phải hét toáng lên như thế.

Chạy trong gió, ngang qua những cô gái điếm nháo nhác trên cầu, tôi lại thấy lòng bình yên lạ. Và tôi nhớ ra được những khoảnh khắc Hồi đó, những khoảng khắc hồn nhiên không tì vết, những khoảnh khắc sống trọn nhất, với những huyễn hoặc, đam mê, những cuốn Harry Potter mỏng dính mỗi tuần, một anh chàng phù thủy trẻ với một vết sẹo hình tia chớp, hồn hậu, say mê.

Và rồi tôi chợt hát một bài hát cũ xưa, ám mùi bụi của Willie Nelson :

On the road again
Just can't wait to get on the road again.

Những cô điếm nghiêng nghiêng quay đầu.

Thứ Tư, 24 tháng 11, 2010

Đèn không hắt bóng

Chạy ngang qua một ngã tư xưa, nơi đó hằn vềt tuổi già trôi quá độ. Một mai sau khi trở lại, có lẽ ta vẫn thấy ở nơi này đôi ba cột điện im lìm chờ chết, giẫy giụa trong những hàng dây dăng đầy rẫy, chằn chịt, ươm mầm bầu trời những thanh thập tự giá, lệch đôi ba phân, mỏi mòn chờ Chúa.

Cái thế cô quạnh của nó tạo đà cho những con chim đương mình đáp xuống, ngắm nghía thế sự trong giây lát, rồi lại vung cánh bay đi. Không tiếng kêu, không tiếng hót, chỉ có những ánh nhìn vô hướng. Gió quên thổi ở chốn này.

Xa xa là một cây cầu trắng dã, một nhà tang lễ không màu, một con đường mới lấp, chưa phủ bụi.

Gần gần là cái tượng đài chỉ chỏ một phương (bắc nam tây đông ???), bất khuất, hiên ngang, mắt trừng gửi mộng qua một ngã năm ngã sáu ủ màu bụi đường, đèn mờ, phất phơ những tiếng rao không chợ búa nên tuy lỏng lẻo nhưng quyến rũ đến quỵ người, đây đó những tiếng cười hay chửi rủa vọng lại đều đều như bị nén hãm, như vừa vấp phải một cái phễu vô hình nào đó của hư vô.

Ngồi đó, giữa lòng xe cộ, ta thấy một thế hệ xói mòn, nay bừng tỉnh. Khó có thể nói tuổi già nuôi dưỡng chính nó hay chính nó vun đấp tuổi già. Hay cái sự tách bạch đã quá không rõ ràng đến một mức độ sợ sệt, không thốt nên lời.

Đâu đó vẫn còn in vết chiêm bao những kẻ đương mơ. Mơ những giấc mơ hão huyền.

Một lão già xương xẩu lấn át da thịt, ve vẩy một điếu Bastos trong tay, gợi những gợn sóng đăm chiêu, hỏi : “Mày kiếm tìm gì ở chốn này ?”

Căn hẻm rộng một cách thừa thải, chặn ngay đầu hẻm là một quán hủ tiếu Tàu, bán thâu đêm suốt sáng, khói bốc trắng nhợt nhạt nhưng ấm nồng đến mức ai đi ngang qua cũng phải ráng nhướn mình lại mà đắm chìm vào bên trong. Căng dọc theo hẻm là những sợi dây điện song song, giắt vào đó những chiếc bóng đèn kiểu cách, mắc so le, trông vui mắt. Hiếm khi tôi thấy chúng được bật.

Hẻm cụt, chần dần một chỗ gửi xe của hai ông bà già người Hoa, cả hai đều khó chịu. Với nhau, chứ không phải với người.

Hết hẻm, băng qua đường bên kia, vượt hai làn xe chạy một cách kinh hoàng, ta thấy một bệnh viện lớn, tô trên mình màu xanh lá gì hông biết. Nhìn chán ngán, đúng là bệnh viện có khác, một vẻ ngoài vô tình, khó gần, nhưng gần được rồi thì dứt mãi không ra.

Học, nơi mà những ánh mắt giả thật nhìn nhau trừng trừng, xoay qua xoay lại, nheo mắt liên hồi, những ông già em bé khi cười khi khóc, một ông Phật chễm chệ góc phòng nhìn ra. lộng giả thành chân, khó lường. Không có cảm giác kinh sợ khi bóng tối trỗi dậy hay sao ? Đèn không hắt bóng thì làm sao mà thấy được thù hình. Rõ dớ dẩn. Dở hơi. Ngồi cứng lưng đau mắt suốt 3 tiếng, tay làm hàm không nhai, mắt láo liên đôi ba phút lại dòm đồng hồ.

Rõ dớ dẩn, dở hơi. Tối 10 giờ chạy từ nơi chốn đấy của người Hoa về nhà, giữa đường chịu sự níu kéo của quán xá lề đường, căng mắt ra để không đâm vào một chiếc xe tải chết dẫm nào đó, chập choạng đầu óc rủ mình nhắm mắt. Giữa đường ngóng mưa bay.

Thế là hết một đêm đi học. Nắng khuya chưa lên, đèn không hắt bóng.

Chủ Nhật, 21 tháng 11, 2010

20 tháng 11

Ta đếm một vài hạt nắng vắt ngoài sân, bò lê lết. Ngày thường chả dại, hai mươi tháng mười một, hỏi thăm thầy cô chưa kịp, thì cái kí ức ất ơ về những đứa bạn chẳng ra bạn, bè chẳng ra bè , lại quay về. Khi đó, chúng tôi chơi nhau, hay đá nhau, nào ai biết.

Ấy là khi tôi nhớ đến cái thằng bạn đó. Nói là 'đó', vì đến cái tên cũng đã kết tinh thành một thứ lãng quên trong đầu óc lộn xộn và không thành thật này. Nhớ nhất, là da nó màu đen, đen do cháy nắng lâu năm, hay do lộn xộn alen aliết  gì chẳng biết, mà cái sự đen đó tồn đọng như một tội lỗi hóa rồ bởi lũ bạn bè nhăng nhố. Nhớ thứ hai, là nó hô răng, cái hô bất biến do không nào biết đến cái niềng khi nhỏ, tạo cho thằng 'đó' một vẻ mặc cảm dù không mấy tội lỗi. Một thứ rũ bỏ bản thân mình dù chẳng ai ngoài nó nào hay nào biết. Nó cũng vui lắm, nhưng do hoàn cảnh đẩy đưa nó vào một cái lớp chẳng ra gì. Nó hay khoe chiến tích rồ dại của mình cho tôi nghe, nhưng sự gật gà gật gù tỏ vẻ quan tâm chỉ để chứng tỏ rằng tôi chẳng quan tâm đếch gì cả. Mỗi lần bị bóp thó, nó cúi lì đầu, mặt hầm hầm trông kinh khủng – một phần cũng vì cái sự đen của nó – làm ai cũng khiếp đảm. Nhưng tụ trung lại thì nó là một đứa đáng mến, và chơi được.

Cái nhà xe, hay chính xác hơn là cái hẻm chứa xe của ngôi trường cấp 2 chật chội, nằm bên cạnh nhà vệ sinh đầy mùi amôniắc, tôi bắt gặp một cái gói kín mít, cộm cộm, nằm trên giỏ trước xe đạp của nó. Một con dao thái. Nó dấu kĩ, nhưng rồi thì cũng lòi ra. Hỏi nó, nó lại dồn khí nóng lên mặt như mọi khi và trả lời gọn lỏn : “Tao sợ đi đường tụi nó chơi tao.” Tôi chẳng biết tụi nó là tụi nào, và tại sao lại có chuyện chơi nhau giữa đường thế này. Nhưng tôi im lìm, và chẳng đả động gì đến chuyện đó nữa. Vũ khí tồn tại mặc sức cho lũ trẻ hầm hố bộc tả mình. Rồi cũng chẳng đi về đâu. Nếu có thì cũng chỉ là những nỗi đau.

Đấy là năm lớp 9.

Thằng bạn đó đã bị lưu đày đến một chốn nào đấy, tôi chẳng còn hay biết. Và con dao thái ấy liệu có được dùng để ướm thử vào mông, vào má, vào mặt một con người nào đấy không, tôi cũng chẳng tường. Chỉ đôi khi, đồ vật lại hiện diện như một thứ để bám víu lấy quá khứ, dù chóng tàn. Nắng vàng chỉ là một thứ chói lóa tạm thời. Rồi sẽ phai mất. Liệu tôi có chết trẻ, có bấu víu cuộc đời khi nắng chưa đổi màu ? Nghe Q tâm sự về một nét chấm rũ mục của đời mình : “Tôi sẽ chết năm tôi 35 tuổi.” Thú vị, và cũng nên thơ ra phết. Nếu con người có quyền quyết định được số năm ta tồn tại, thì đời quả là vui thú hơn biết bao. Sự sống sẽ như bày ra tất thảy trước mắt, tuyển chọn hướng đi cho mình, và tận hưởng.

Nhớ đến một câu nói của ai đó : “Không sợ để sống.” Nghe phi lý đến gai người.

Ừ, mà hay mà biết làm chi, chân trời người nào, người đó bay. Thế cho khỏe người.

3 năm, cái trường ấy đã tàn rụi, mất dạng, không còn mảy may tí thù hình cụ thể nào trong đầu. Chỉ nhớ, khi vừa đặt chân đến đấy, lớp 6 trẻ trung ngây dại,  thì những bức tượng khỏa thân chưng dèm ở ĐH Mỹ Thuật kế bên luôn là đối tượng quan sát của lũ học trò chúng tôi, không thèm khát, khi đó nào có biết dục vọng là chi, chỉ khoái, cái khoái a dua lèm bèm ta đây biết tuốt mọi đàn bà, hay chính xác hơn là thân thể họ. Tội nghiệp chúng tôi biết mấy.

Đời thế mà vui.

Những nẻo đường đã chịu đựng bàn chân tôi đấy, đã đi về đâu ? Cái cảm giác đi tìm thời gian đã mất thật thú vị. Lộn xộn, chạy chọt, như những mảnh xếp hình  - vô dạng. Tôi thích Yugen, cái đẹp của những điều lửng lờ, không hoàn chỉnh. Đôi khi, nó là những nỗi đau.

20 tháng 11, chả cần thăm ai. Việc tiếp xúc với những điều đã mất từ quá lâu có lẽ chỉ để làm vỡ thêm trái tim của chính mình mà thôi.

… Người ta vẫn chết vì trái tim tan vỡ. Chuyện ấy xảy ra hàng ngày, và sẽ còn như vậy cho tới tận cùng thời gian
-Paul Auster-

Thứ Sáu, 19 tháng 11, 2010

Tướng về hưu


Nguyễn Huy Thiệp. Nguyễn Khắc Lợi. Một câu chuyện của một tác gia họ Nguyễn, một bộ phim với một đạo diễn cũng họ Nguyễn. Nói thế là để thấy rằng, sự đồng bộ trong tư tưởng của hai nhân vật ấy đã được biểu hiện rõ ràng ngay từ đấy. Chẳng phải khó khăn gì để nhận ra bộ phim bám sát vách với cái sườn nguyên bản. Nhưng một người tên Lợi, một ông tên Thiệp. Hằn đó những dấu vết thay đổi, không dở đi, cũng chưa hẳn hay hơn, nhưng thể hiện một tư duy và một cái nhìn của riêng đạo diễn với tác phẩm chuyển thể. Tướng về hưu, đó đây một bầu không khí u ám và nặng nề của một xã hội Việt Nam thời hậu chiến, mở cửa, đồng tiền ùa vào.

(MK. Cái mở đầu vô duyên quá chừng ....)

Phim mở đầu bằng một cảnh dùng tracking shot dõi theo chiếc xe Jeep quân sự đang chạy băng băng qua một cây cầu sắt, với góc máy làm tôi nhớ đến vài đoạn trong ‘Trăng nơi đáy giếng’ của Nguyễn Vinh Sơn. Sau đó, từ góc máy khách quan, phim đổi bất chợt qua góc máy chủ quan – điểm nhìn từ trên xe đối với đường phố và đời sống nhộn nhịp, như một lời báo hiệu cho cái nhìn chính yếu, hay nói cách khác – nhân vật chính của bộ phim – ông Tướng về hưu. Đối với - cuộc sống thời đó. Chủ đề tư tưởng bộ phim đã được bày ra ngay từ những giây phút đầu tiên. Đó là một sự đối nghịch, một mâu thuẫn đang ngầm ẩn chứa. Phải chăng những thanh sắt chằng chéo của cây cầu càng nhằm muốn nói cho chúng ta thấy rõ hơn cái mâu thuẫn, cái đối nghịch đó, với chiếc xe quân sự chở ông Tướng dường như bị giam cầm giữa cái cuộc sống mới đang chạy ro ro chung quanh.

Sau đó, cảnh đến nơi và chất đồ đạc lại báo hiệu cho chúng ta bối cảnh nơi xảy ra tấn kịch này, một căn nhà với nhiều con chó. Hình ảnh những con chó với tiếng sủa dữ dội rơi vãi rất là nhiều nước dãi  – lại là một lời cảnh báo. Nó giống như một cánh cổng biệt lập, một sự bày tỏ, nhắn nhủ khéo léo cho khán giả rằng, bạn chớ có rớ vào phim nì. Nó dữ dội đấy, nó đồi bại đấy, bạn có khả năng sẽ bị shock đấy. Nó cũng biểu hiện lấy sự đe dọa khi bước vào một gia đình vốn được xem là khá giả và rất mực vinh quang, nhưng thật ra là một căn nhà tha hóa và tồi tệ trên từng mặt nghĩa. 

Nhân vật ông Tướng bao giờ cũng là hình ảnh của niềm vinh dự, tự hào. Cả ở trong họ, trong làng, tên tuổi ông được mọi người ngưỡng vọng. Ông Tướng là một con người đi biền biệt, thỉnh thoảng cũng ghé về nhà, nhưng những lần về đều ngắn. Nói cách khác, cuộc đời của ông gắn bó với vận mệnh của dân tộc, cuộc đời ông, là ở chiến trường. Sự thành công nơi chinh chiến khiến cho ông được suy tôn như một vị anh hùng, một niềm tự hào của cả họ, cả làng, khiến ai ai cũng phải vỗ tay, hô hào và ra vẻ đồng thuận nhiệt liệt khi ông phát biểu. Đấy là một ông tướng, với quân hàm sáng chói và được ghi công oai ra phết, nhưng lại hiện hữu như một chủ thể bất lực trước hiện thực không như ông mong đợi. Một hiện thực thối nát.

Lại nói về những cảnh phim, kế tiếp cuộc ra mắt của những con chó là cuộc ra mắt của toàn thể gia đình ông Tướng, giữa một bữa tiệc chào mừng cái hoàn cảnh ‘về hưu’ của ông. Một thủ pháp được Nguyễn Khắc Lợi sử dụng, mà người ta có thể thấy rõ nhất trong ‘Bố Già’ của Coppola. Dùng một bữa tiệc để khơi mào câu chuyện, để lần lượt điểm xuyến hết toàn bộ các nhân vật với tính cách của riêng họ. Ở đấy, giữa nền nhạc bập bùng ầm ĩ, ta đã thấy một ông Bổng mưu toan lọc lừa xảo trá nhưng lại hằn vết yếu đuối của một thời đã quá xa, quá vãng, một quá khứ giang hồ oai hùng đã mất. Đấy là Thủy, một con mẹ tính toán, vô luân. Đấy là Tuân, con ông Bổng, một kẻ lưu manh, mất dạy, chửi và hăm đánh cả bố mình. Đấy là ông Cơ – cô Lài, hai bố con bỏ quê cha đất tổ mồ mã tổ tiên để ăn nhờ ở đợ cho nhà ông Tướng, hiền lành và chịu khó nhưng bị chèn ép như những con người dưới đáy tận cùng xã hội. Đấy là một ông chồng nhu nhược, yếu hèn, không ngây thơ nhưng chẳng thèm tính toán, một con người đứng đó như một công trình ngã ba, một vị trí trung lập, chẳng biết phải làm gì ngoài việc khổ sai chính mình. Trong truyện, đấy là nhân vật xưng tôi, đã từng nói một cách vô thưởng vô phạt “Không phải trò đùa, nhưng cũng không phải nghiêm trọng"  khi nghe ông Tướng phàn nàn về cuộc ngoại tình của Thủy . Đấy là vợ ông Tướng, điên nhưng lại tỉnh, hiện hữu như một nạn nhân bị đay nén nhưng lại uất ức và muốn chống trả, muốn cười nhạo lại cái hiện thực điên rồ đang hiện hữu xung quanh. Phim còn đây đó nhiều lớp nhân vật phụ khác, rải rác, không tiêu biểu, nhưng vẫn tồn tại với cá tính riêng biệt. 

Sau những cảnh ban đầu ấy, câu chuyện của gia đình ông dần dần được bóc tách ra, những chuyện có lẽ chẳng ai ngờ được. Đó là những mâu thuẫn và xung độ : nổi và chìm, như một tảng băng trôi. Người và người, tiền và đạo đức. Một cuộc ngoại tình xảy ra ngay trong căn nhà này, không mảy may thèm che đi dấu vết của nó. Một đàn chó được nuôi dưỡng bằng những bào thai hỏng, nghiền nát trong một chiếc máy xay thịt – hình ảnh mang đầy ý nghĩa. Những nhân vật u mê dùng tiền để mưu cầu chính mình. Những kẻ đồi bại chỉ biết đến đồng tiền. Những bữa tiệc vun đầy âm thanh và tiêu pha phun phí. Tất cả để chỉ lên một sự tha hóa, mất dần nhân tính trong một cuộc sống dường như ‘đầy đủ, vui vẻ, giàu có’ đến nỗi ông tướng phải thét lên : “Khốn nạn. Tao không cần cái sự giàu có này.” .Ta phải thấy hình ảnh chiếc máy xay thịt như là một biến tướng của một cỗ máy khổng lồ nghiền nát nền tảng đạo đức con người – cho chó gặm.

Dĩ nhiên, ta thấy không vui cho ông Tướng, một người đã từng oai hùm, đã từng làm vua ngoài chiến trường. Nay về gia đình, thấy đồng tiền – như một vị vua mới không ngai -  đè đầu cưỡi cổ mọi người, một cách dễ dàng, không súng không đạn không xe tăng máy móc, chỉ lợi dụng lòng tham không đáy của con người, và ăn mòn nó.

Dĩ nhiên, nguyên nhân ‘tiền’ dẫn đến sự tha hóa con người và sự phi nhân tính là một lớp nghĩa dễ dàng để thấy. Nhưng, ta lại phải đặt ra cho mình câu hỏi nhỏ : Tại sao tên truyện lại là Tướng về hưu, tại sao lại chọn nhân vật ông tướng, tại sao lại đặt hoàn cảnh về hưu, chiến tranh có ý nghĩa gì trong này, và một câu hỏi quan trọng hơn : tại sao ông lại lạc lõng ?

Vẫn tồn tại đâu đó một dấu vết của thời chiến tranh khốc liệc, nơi mà cái nguyên nhân cho bi kịch xã hội ấy không hẳn là tiền bạc. Một thời kỳ đầy máu, đầy giết chóc đã quá vãng chẳng qua chỉ là một lời biện hộ cho một thứ gì đó không thuộc về chính ông . Ông tướng sống trong cuộc chiến quá lâu, ông tướng hiện diện bất lực, cô đơn khi trở về, vì hẳn trong chiến tranh, nhân tính không màn đến, vì giết chóc chẳng qua đó là đang bắn giết kẻ thù đó sao.Nhưng nay, chíên tranh vẫn hiện diện như một bóng ma níu kéo ám ảnh và cũng đồng thời hiện hữu trong cuộc sống với nhiều bất đồng và mâu thuẫn gay gắt. Như thế, ngoài việc đại diện cho một nhân vật điển hình ‘người lính’ – ông còn đại diện cho một nền tảng đạo đức đáng lẽ nay ngày một đi lên sau khi thoát khỏi chiến tranh, khi đời sống đổi mới, khi đất nước vắng bóng kẻ thù, thì nó lại đi xuống - nhân tính  càng đi xuống, và những con người thân thuộc bắn chính nhau. Ông bị  động. Ông chạy không kịp. Đám ma vợ ông, ông thốt lên cay đắng “Trong đời mình, tôi chôn ba nghìn người chẳng có người nào thế này". Quả thật, chiến tranh và hiện tại gắn bó với nhau, còn hơn cả một ám ảnh, nó là một nguyên do ngầm, một nguyên do vô hình khiến ông Tướng ngày một lạc lõng trong cuộc sống hòa bình. Nói cho kỹ hơn, ta có thể hiểu, chiến tranh không chỉ là xông pha trận mạc bắn Mỹ bắn Tây hồi đó – nơi mà ông Tướng chịu được, là một anh hùng, chiến tranh vẫn đang hiện hữu như một khẩu súng vô hình bắn giết (đau lòng thay ) chính dân tộc ta, chính những con người gần ta hơn cả - nơi mà ông bất lực, như một kẻ lạc lõng. Có lẽ hình tượng người điên dùng súng bắn trong không trung và kêu pằng pằng cũng mang lớp nghĩa đó.

Với một cách nghĩ khác, chưa hẳn đã là chính xác, tôi thấy được một sự giễu nại giữa cái thật và cái ảo, và sự giễu nại ấy như bổ trợ cho việc mỉm cười với một cái chân lý cũ đang dần xói mòn, một hệ tư tưởng đã bị ăn mòn bởi hiện thực như những thanh kim loại không được chăm sóc kĩ lưỡng. Nhân vật ông Tướng, bị chiến tranh lý tưởng hoá chính mình, trở nên khô cứng. Đấy là một cái ảo tưởng do ông tạo ra (tuy xúc tác dĩ nhiên vẫn là người khác, thứ khác, một chân trời nào đó – ai biết được). Vẫn là một cái ảo tưởng khi danh xưng ông Tướng luôn được mọi người ngưỡng vọng cho dù ông chẳng bao giờ hiện diện như một con người thực sự tồn tại cho chính gia đình mình, cho chính ngôi làng mình, thế mà khi ông về biết bao kẻ xum xuê, khua mép khua mồm xin xỏ nhờ vả. Vẫn là một cái ảo tưởng khi hay tin ông được về lại cuộc đời ‘cũ’ của mình, ông đi ra phố dưới ánh mắt của một kẻ tự hào, một kẻ thấy hòa bình ươm mầm một cuộc sống ‘mới’ hạnh phúc – nhưng khi quay về đến nhà, thì sự điên rồ, sự tha hóa lại khiến ông loạng choạng, chóng mặt. Một sự nghiệt ngã khi Tướng – trận mạc lại trở thành Kẻ lạc loài – gia đình, xã hội. Đấy là cái ảo do mọi người tạo ra, do ông Tướng tự tạo ra. Có lẽ, sự lạc đường khi đứng trước ngã ba, ngã tư, giữa những thứ mình đã được lưu vào đầu như một tư tưởng khó bỏ, một sự ảo tưởng khi nhìn về cuộc sống, so sánh với những thứ đang hiện diện một cách tồi tệ như ông đã thấy – khiến ông mất phương hướng, lạc loài trong chính máu mủ, dòng tộc của mình. Ông Tướng lạc lõng khi không tìm được chính mình, không thấy được thứ mình cần, thứ cần mình, và lẽ phải.

Rồi chết. Sự bi quan đã được hạn định trong phim, khi những điểm nhìn của đạo diễn về nguyên tác được thấy. Tôi xin mạn phép nói về những thay đổi của đạo diễn đi kèm với phần quay phim. Đầu tiên, Ông Cơ và cô Lài không về quê giữa buổi như trong truyện, ở đây, hai người nói nôm na là bị đuổi – mang danh xưng giúp đỡ gầy dựng tương lai trong mắt vị Tướng. Ông có lẽ rất vui vì có thể giúp người, nói nôm na là ông đang Cách mạng đấy, ông đang giải phóng dân tộc đấy, không còn bóc lột, tất cả đều có quyền được sống như ai. Nhưng cuối phim, khi cô Lài lại được trông thấy như một kẻ cắp, ông Cơ chết, thì ông Tướng quay cuồng. Nhà quay phim Trần Trung Nhàn đã xử lý khéo léo trong cảnh này, đó là một sự quay cuồng, đảo lộn mọi giá trị, Trần Trung Nhàn cho góc máy chủ quan của ông Tướng, nhìn cảnh cô Lài bị công an bắt trong choáng váng, khuôn hình bị xoay dần dần, rồi lật ngược 180 độ, không còn giữ vị trí của nó lúc ban đầu nữa. Đấy là một xử lý khéo, tôi nghĩ là còn hơi lộ và không tinh tế lắm, nhưng khéo, và bắt nhịp hình thức được với nội dung, vốn đã đồng bộ ngay từ những cảnh đầu tiên. Còn nhiều thú vị nữa với quay phim, đôi khi ông xử lý ánh sáng để nổi bật lên một hình tượng, một hình ảnh nào đó – như cảnh cái máy xay. Như đã nói, quay phim hay dùng góc máy chủ quan với cái nhìn của ông Tướng, tuy đôi lúc còn lạc và chưa bật lên được chủ đề chính. Thay đổi thứ hai là cái chết của ông Tướng nơi chân cầu thang, trước đó, âm nhạc nổi lên tạo xúc cảm, khuôn hình động đậy liên tục, chóng mặt nơi ông Tướng cũng như người xem, rồi những khuôn hình cận thi nhau xuất hiện, như sự thể hiện con người đã điên rồ đến mức nào.

Khi đó, ông bước lên cầu thang, loạng choạng, chết. Thú vị nhất là ông chết ngược, 180 độ, đâm đầu xuống nền đất. Cảnh đấy là một xử lý tinh tế của đạo diễn. Trong khi ông Tướng đang cố gắng đi lên, thì cái chết lại đến với ông khi ông ngã xuống ngược ngạo như thế, cảnh đã đạt đến sự công phu và dụng ý rất mực kỹ lưỡng, một sự châm biếm toàn kỳ - nhân tính đang ngày một đi xuống với nền tảng đạo đức phải đi lên như chúng ta muốn nó vốn phải thế. Đấy cũng là một sự chống chọi bất lực dẫn đến cái chết. Cũng như vợ ông, khi thấy cảnh ngoại tình, đã liên tục đập cửa ầm ĩ, rồi đi ra vườn cười một cách điên dại, liên miệng hô ‘đùng đoàng’, rồi nhảy xuống sông, huơ tay múa chân chi đó. Sau đó ít lâu, bà chết. Thủy, kẻ ngoại tình cắt những miếng vải trắng tan, khi bà còn đang nằm quay qua quay lại, rồi nói với anh chồng một cách ngạo nghễ “Mẹ già rồi.

Sự bi quan nữa khi trong nguyên tác, ông Tướng chết khi ở quân ngũ ‘lính’, trong phim, ông chết tại cái ‘thật’ đang vây bủa lấy ông. Tại sao lại thế, sự lạc lõng được đẩy mạnh hơn trong phim, khi chính ông là người không chịu nổi nên chết tại chỗ. Trong khi sự chịu đựng của ông Tướng trong nguyên tác đã đến hồi chấm dứt khi ông trở lại cái ‘cũ’ xưa kia, cuộc sống ‘cũ’ xưa kia, và ông chết trong đó. Cái chết nào đáng sợ hơn, trong một cái hạnh phúc dường như ảo tưởng như thật ra là lẽ sống của ông, tư tưởng của ông nằm đó. Hay chết giữa một hiện thực tàn bạo, như một con tôm co lại dưới nước sôi ??? Chấp nhận nó, hay chối bỏ nó. Cái nào chân chính hơn ? Cái nào ‘người’ hơn.

Sau đó, mọi thứ lại lập lại như một vòng quay khép kín. Nguyên tác cũng thế, phim cũng thế. Kinh sợ là thế chăng, khi cái chết của ông Tướng chỉ để chấm dứt một cái gì đó mang tính lẻ đơn và nhỏ bé, xã hội vẫn thế, đảo điên vô cùng tận, chẳng đổi thay. Vẫn bi quan, vẫn chìm ngập trong sự tha hóa đó. Bán chó rồi lại có chó, Cách mạng rồi lại cũng thế, cũng như không. Cái máy xay vẫn tốt lành, xay nát những bào thai hỏng. Chó vẫn gặm.

Những diễn viên với vai diễn ấn tượng của mình đã làm cho người xem cuốn mình vào đó. Chọn diễn viên rất tốt, có lẽ là rất giống với những gì đã tưởng tượng khi đọc truyện. Một bất ngờ là ông Cơ, tôi cứ tưởng phải to con hộ pháp lắm (như truyện tả), nhưng sự thay đổi về vóc dáng trong phim lại hợp lý và tôi nghĩ hay ho hơn đến mức khó tin. Một kẻ gian xảo nhưng yếu đuối. Một sự mâu thuẫn trong nhân cách con người được tạo ra dưới áp lực của xã hội.

Âm nhạc chỉ có một bài chủ đạo, tùy vào hoàn cảnh mà nó thay đổi, hòa mình vào phim hơn, tạo nhịp điệu khác nhau và gợi cảm xúc khác nhau. Hơn nữa, đó là một bài nhạc hay. Nếu trên Internet lạc lõng đâu đó một Tuongvehuu Theme thì chẳng cũng khoái ru ?

Đây là một bộ phim với những xung đột và mâu thuẫn liên miên, hiện và ẩn, mà ẩn nhiều hơn hiện, khiến cho đạo diễn có lẽ phải chắc tay trong việc tạo không khí – một bầu không khí đảo điên, xám xịt. Hơn nữa, nguyên bản theo tôi rất khó khăn để làm ra được một bộ phim hay đúng nghĩa, vì bản thân câu chữ trong truyện tạo sức mạnh, không phải chỉ là một câu chuyện, mà nó là một câu chuyện như không có chuyện, một bầu không khí đè nặng trên vai. Phim có làm ra được cái bầu không khí đó không, tôi nghĩ là có. Có đấy, trong từng cảnh, với đôi lúc sự im lặng nói lên tất cả, đôi lúc ánh mắt diễn viên như chợt quét vào hồn ta một bận, những tiếng chó sủa vang lừng với nước dãi cũng gợi ra một không khí ám ảnh, rồi những cảnh zoom, cận, xoay máy, vòng vèo chi đó của chuyển động máy quay cũng đã tạo nên một thứ chao đảo trong phim.

Hết, bực bội vì chất lượng âm thanh DVD như ****, phim rè rè khó chịu, màu đen trắng đâm vậy mà hợp. Nằm xả lai quên mọi lo toang rằng sẽ có những thứ khó khăn đang ùa đến trong chính cuộc đời mình bây giờ. Gió không thổi, chỉ tồn đọng những tiếng kêu vù vù của một chiếc máy điều hòa đang chờ ngày quá hạng và vứt xó. Không có bắp rang, ngồi hiện đại chần dần mà xem một phim cũ mèm kể cũng tréo nghoe cẳng ngỗng, nhưng điện ảnh nào biên giới. Xóa bỏ mọi rào cản, mọi kinh nghiệm đã qua, và chỉ cần chìm mình vào nó. Chẳng cũng khoái ru ?

Thứ Tư, 17 tháng 11, 2010

đèn

Nguyễn Tuân nói rượu vang là thứ rượu đàn bà.

Không sai khi nói rằng, cái chốn ăn chơi đàn đúm rất hấp dẫn, nhất là khi chúng ta không biết tự kìm chế lấy bản thân. Một thằng bạn cùng lớp chắc chỉ vừa chạm lưỡi vào những thứ khoái lạc đó lại nhanh chóng khua môi rằng tao sẽ đi đập đá, tao phải đi đập đá. Chắc mày chỉ nên đập đầu vào tường thì hơn.

Cafe Sài Gòn có lẽ tương đương với Trà Đá Hà Nội, bày ra vệ đường mới thấy thú, thấy đã, thấy ngon. Hôm trước đi học về trong mưa, ngồi chờ người ở một quán cóc bên cạnh Parkson Hùng Vương, nhìn cái đèn xanh lam nhấp nháy bên góc đường. Quên mất rằng các ánh đèn mang tính thôi miên, bản năng trỗi dậy mà đạp xe lòng vòng qua những làn đường hỗn loạn, nghe lanh canh như đang băng mình trên những  tà vẹt sân ga . Đi ngược chiều, cái cảm giác như xem Rosemary Baby của Polanski, ngờ vực một mối họa mang tính thường trực sẽ đến, trong khoảng không đen mù trước mắt, nhưng lại lí thú và đã đến vô cùng.

Đã đi qua nhiều chốn cóc nhái vệ đường, mỗi chỗ đều có một tí ti gì đó lạ lẫm. Hàn Thuyên kéo mình qua những tán cây dòm ngó lấy một Nhà thờ Đức Bà vĩ đại, Đông Du tràn ngập xe hơi xịn xếp hàng làm những chiếc xe đạp liếc ngược thèm thuồng cay cú, Bà Già ở cạnh Nhà Hát mang một thứ trang nghiêm không sao nghiệm ra nổi. Và những chiếc dù bay.

Đã ca cẩm ra lề đường thì phải nhớ lấy những ánh đèn. Chói mắt người đi, người ngồi. Trông xa lạ nhưng mà gần gũi, hệt như một thứ đồ uống nồng ấm, dễ thương là chai ruợu vodka Hà Nội được bày vệ ngòai vỉa hè ở Bà Gìa lúc về đêm. Đã nói khi nãy, ánh đèn mang tính thôi miên, cuốn ta vào trong cái tâm vòng tròn chói lóa của chúng mà cũng như chính chúng ta đang làm tâm cho chúng xoay đều vơ vẩn. Say đèn, thú hơn say rượu.

Đã hình dung ra chưa cái con đường bốn bề bờ bụi Điện Biên Phủ ấy, những hàng đèn đều đặng dông dài như đưa đám, ta đi lòng vòng, chăm chăm nhìn chúng, vàng vọt, đẩy đưa, như một thiếu nữ dậy thì đôi mươi lượn lờ trước cổng, không cưỡng lại được. Phải cố lấy, cố chiếm hữu nó, vồ vập nó, cho nó vỡ òa như bong bóng nước. Liếm trọn từng giọt bắn ra, như phóng tinh, như hỏa táng, như hữu hình.

Tôi nhớ lấy một hôm Q đèo tôi về, hai cô gái chạy tay ga rất xịn nhào tới, đỏm đáng : “Đi không anh ?” .Tôi cười. Q lắc đầu. Những cô nàng ấy, đắp lên mặt lớp phấn dày không tả nổi, leo lề đi mất, tìm cho mình một khách hàng để chung chạ ca đêm. Lại nhớ đến ‘Tuổi 20 yêu dấu’ của Nguyễn Huy Thiệp, với đôi chương được đề tên : Cave 1, Cave 2. Nghe buồn cười, nhưng xót.

15/10/2010

Thứ Sáu, 5 tháng 11, 2010

Lan man trong lúc trời mưa

thành phố chiều nay có cơn mưa điếc
mưa điếc vô tình chảy xuống phố câm
anh đứng một mình vừa câm vừa điếc
nghĩ về cuộc tình vừa điếc vừa câm
-Nguyễn Lãm Thắng-

Nắng mất ngủ
Vắt ngoài sân phơi
Chuông cổ
Khàn hơi.
-Lê Thánh Thư-

Bắt chước, ăn theo cái tựa sách của Bảo Ninh một cách không hoàn chỉnh. Lan man. Lan man. 3 giờ rưỡi  chiều nay mưa đã đến trong một phút chốc ngỡ ngàng. Mẹ nó, mưa tối tăm mặt mũi, mưa mù trời, mù người, mù đất. Mưa cuốn phăn cả cái nắng chiều đẹp tươi rói (chả của gì riêng tôi). Tôi mệt mỏi quay lăn lốc ngoài đường, gió cuốn bụi mù li ti, không kịp rơi lại trên mặt đất.

Quả là trời đang mưa dữ, phải công nhận là thế. Nắng chưa lành và trọn vẹn thì đã bị xua tan bởi mây mù, đôi lúc tiếng chớp thét gào làm ai đó khựng tay lái và đổ oặp xuống đường. Tiếng còi rú xa mờ giữa những khoảng cách được căng ra bởi sự sợ hãi. Những chiếc lá rơi rụng tường đợt, từng đợt, vồ vập giữa không trung.

Tôi sợ rằng một ngày nào đó, chúng ta sẽ chán ngán tiếng khóc của ông trời, mà chỉ hằn nhớ đến tiếng khóc của những nạn nhân rên rỉ dưới lòng đường, những em bé quên mất gia đình bị cuốn trôi đi, những ông già bà lão chẳng còn quá khứ bị vùi lấp trong nước. Xoay vòng, như một cái miệng đầy răng nanh chực chờ ăn tươi nuốt sống con người trong một câu chuyện kinh dị của Stephen King. Nhưng, nếu ông trời không mảy may thèm khóc, thì cũng thật mệt mỏi cho nhân loại.

Đường xá ta lắm cống, lắm hố, và chẳng may chúng không được vững chắc cho lắm. Ngoại lực khiến chúng sập. Và người cũng sập theo. Lắm người chết. Lắm người chối đây đẩy. Thù ai, ghét ai ? Nào ai biết.

Đi đường trời mưa lại nhớ đến nắng. Nắng buồn không ? Nắng buồn chứ. Nắng chuyển mình nhiều lần trong ngày, rồi tàn khi màn đêm chợt tỏ, rồi lại bừng dậy nơi bình mình khơi mào hôm sau.

Tôi thấy nắng buồn, vì nắng làm tôi say, say đến độ ê ẩm đầu. Say nắng = điên và mụ mị, có lẽ trong một thời gian khá dài sau đó.

Lại nó đến chuyện mưa. Hôm bữa lâu lắm rồi chị A hát ngân nga ‘Mưa hồng’ khi mưa đang ầm ĩ. Tôi cứ băn khoăn mãi xem mưa thế này thì hồng chỗ nào. Và sự băn khoăn đó nhanh chóng chuyển thành câu hỏi không lời đáp : “Tại sao ông nhạc sĩ không đặt tên nó là mưa cam, mưa vàng, mưa tím, thành thật hơn chút nữa là mưa nâu. Tại sao mưa lại màu hồng ? ”

Nhưng lại nhớ đến sự lí giải đầy lí thú của một thi nhân về mấy câu như sau :
            Trên trời có đám mây xanh
Ở giữa mây trắng, xung quanh mây vàng
            Ước gì anh lấy được nàng...

Lời ông nói : “Nhà luận lí khảo cứu mãi xem vì sao mà chuyện mây trắng mây vàng lại đưa đến chuyện anh với nàng. Luận lí chưa hiểu, nhưng cả tam hồn chúng ta đã hiểu và âm vang theo.”

Chí lí. Như muốn vỗ đùi cái đéc và hét : “Tiên sư anh Tào Tháo”, nay sẽ đổi lại thành “Tiên sư anh Nguyễn Đình Thi.”.

Mưa rơi rụng, thì có nước. Mưa bay ngang dọc xiên xéo, làm sao để có một hệ tọa độ quy chúng về một mối bây giờ ? Không thể.

Nước tràn về tứ phía. Đạp xe đạp trong mưa có cái thú của nó, không phải vì những thứ lãng mạn người ta bày ra trong các tình khúc khi xưa, mà vì cái tính tự kiêu tràn đầy khoái cảm. Lũ choai choai chạy bạt mạt, dâng sóng vỗ ồ oạp khiến tôi như đi ngược dòng nước lũ. Vui biết bao khi ngay sau đó, nước bịt kín họng của những cái bô xe vừa mới đây gầm rú kêu hãnh, nay thở không ra hơi, chỉ còn độc hành một chiếc xe đạp boong boong trước gió, nụ cười thoáng nở trên môi.

Mưa Hà Nội khác mưa Sài Gòn. Mấy kiểu, vài ba thứ lai rai đủ để thấm tháp được một cơn mưa đã trôi qua. Nhưng số trời rong ruổi cho hai đầu nỗi nhớ những vang vọng quá buồn, quá khác. Mưa Sài Gòn lúc nào cũng dữ, cũng thét, cũng đến khi chưa kịp trở mình. Mới nắng còn tươi ám lên lớp gạch ngói đỏ au của một ngôi nhà giả Tây nào đó, thì sau dăm ba phút mây đen đã kéo đến, ầm ầm những bài ca tụ mưa tụ bão của riêng mình. Và rít. Ghét sấm, chúng luôn đến bất chợt, làm tôi thót cả tim hồi hộp chờ một nhánh cây to rơi xuống – và điều tệ nhất là người ta chẳng mảy may ghi chú ban hành luật lệ gì về việc đội nồi cơm điện khi đi xe đạp cả. Rớt oành, là tiêu tan.

Không biết may mắn hay xui xẻo mà tôi đã được nếm thử vị mưa Hà Nội đầu tháng Sáu. Đó là một sáng tinh khôi, đang đứng nép mình trong một chiếc xe bus vàng vọt, đài ra rả về con đường me Pasteur Sài Gòn, thì mưa đến. Mưa thưa, ấy là cái khoảng cách giữa từng giọi, đẩy nhẹ, rồi mau mắn ưỡn ra. Mưa khiến các con phố trông đẹp hơn, sạch hơn mấy độ. Mưa Hà Nội trong, mưa Sài Gòn đục. Mưa Hà Nội đẩy đưa như một nàng công chúa lõa lồ thân thể, mưa Sài Gòn vồ vập như một cô em người mẫu Playboy với cửa mình thơm tho nóng bỏng. Hít hà kĩ lưỡng đều ra mùi đàn bà, khoái cảm .

Mưa nào cũng có nước. Nước nào cũng có thời. Nhớ Mùa Len Trâu của đạo diễn Nguyễn Võ Nghiêm Minh. Phim đầu tay mà đâm ra cũng tốt chán. Xem nhờ Phương Nam hảo lòng phát hành DVD, chất lượng cũng không đến nỗi nào.

Nước tràn ngập trong phim, nhưng ta nhớ đến con người nhiều hơn. Có một vài cảnh làm tôi thé lòng : cảnh Kim sững mặt cầm rựa, bố anh níu tay anh lại. Cảnh cái xác bọc trong chiếu giữa biển nước, treo lắc lư, quạ bu và kêu réo. Cảnh những ngọn lửa lập loè trong đêm, giữa bốn bề, bóng tối và nước bao trùm. Tắt, rồi bùm lên trở lại. Lay lất. Con người, ba chìm bảy nổi, bấp bên giữa đời, nhưng vẫn kiên quyết được sống, được vươn lên – như những cây khô còi cọc mọc cô độc giữa biển. Đến cái chết vẫn còn mang đâu đó khát vọng được sống.

Thích những đoạn im lặng, dù xài có hơi quá đà. Thích âm nhạc cóc cóc, như níu kéo, dập dìu như sóng. Nghe rợn, dù giống nhạc phim Xích lô quá độ.

Nước làm rũ mục tất cả. Để rồi mùa mưa sẽ qua, mùa cạn sẽ đến. Con người vẫn sống, sẽ chết, lại sống, kéo dài mãi cho đến bất tận thời gian.

Một hôm mưa bão khác, chạy băng băng qua những con đường xa vắng vướn đầy lô cốt. Bóng tối trỗi dậy. Q chỉ chỏ một hình ảnh nhập nhòa trong làn nước. Một người đàn bà, lưng còng, ngồi đó, kéo căng ra những sợi thép người ta dùng làm vòng hoa tan lễ, chất lên chiếc xe chở ve chai của mình. Ra rằng những thứ dùng cho cái chết cũng có ích cho người sống gớm.

Mưa, đứng dưới một tán cây, cao vút, bao trùm, trời âm u. Nghe ai đó nói, ‘Bi đừng sợ’ đã không được chiếu ở IDECAF, lí do : ‘phim có vấn đề’. D nói, vấn đề của phim không là sex, không là bạo lực, mà vì hình ảnh con người bên trong quá xấu xa, quá tha hóa. Và chúng ta không chấp nhận nó.

Chấp nhận cái gì cơ chứ ?

Lan man trong lúc trời mưa. Rồi mưa cũng hết. Hết trong khi nước chưa rút kịp. Cũng như ghế đá công viên dời ra đường phố. Bạn bè hãn hữu, phố xá điều hiêu, dây điện mắc đều, vòng vèo rồi cũng tận.

Mưa thoáng chốc lại rơi. Mưa tạnh, mưa rơi ở chốn khác. Ở trong từng khúc ca của chính chúng ta đếm được bao nhiêu lần mưa ? Vô nghĩa. Đẹp một nét buồn khốn khổ là chính ở trong mưa, chúng ta đều đi tìm cho mình một chỗ trú. Để cứu rỗi chính mình.   

Và rồi, sau cơn mưa, tôi sẽ bỏ lại mọi thứ, khi còn cô đơn. Khi còn ngồi vững trên sự vấp vá, mọi thứ sẽ dễ chịu hơn nếu ta từ bỏ.

Biết sống thế nào khi không biết mình sống thế nào ?

Tôi chỉ ngồi chờ dưới cột đèn bỏ. Và nhìn một cột đèn khác. Rơi, vào trong bóng tối.


Tuy nhiên, mưa vẫn đang nặng hạt.


Thứ Hai, 1 tháng 11, 2010

Nhân một lần xem kịch Nỏ Thần

Mấy hôm nay trời Sài Gòn u tối, gió thổi rét, bầu trời như đứng lại, thẫn thờ, mưa không được, nắng không xong. Mỗi lần bước chân ra đường là mỗi lần sợ, sợ cái lạnh đếm được trong từng hơi thở, từng bước chân, sợ cái tiếng còi xe hối hả, sợ ánh mắt cau có đưa đám hằn trên mặt người đi. Bốn bề bờ bụi, lạnh nhưng không sạch, họa chăng chỉ là cái sạch sẽ giả tạo, không thật, không tường.

Có điều, một cái vé kịch đang chờ được xé dùng dằng mãi trong túi, và rõ ràng là nỗi sợ hãi đấy phải nhường chỗ cho sự hiếu kỳ, sự háo hức để được nếm trải một vở kịch mà nghe đồn được giải Nhất chi mô đó, vở kịch thứ 3 (hay 2 nhỉ) trong đời một đứa trẻ chưa tròn 17 tuổi.

‘Nỏ thần’ là cái tên của nó, sân khấu không quá lớn, nhưng chẳng đến nỗi bít bùng, và hiển nhiên là sự nghiêm trang vẫn tồn đọng lại trên từng chiếc ghế, không bọc nhung lụa chi cả, nhưng êm đến sướng cả người, cả óc, cả mông. Ngồi trên lầu, máy lạnh không mò đến được. Chúi cả người xuống dưới mới thấy rõ. Nhưng chả sao, có lẽ cái phiền phức nhứt có lẽ là con người – khán giả, với những tiếng nói chuyện ồn ào đến kinh sợ, những lời văng tục bạt mạng, những lời bình luận nhăng nhít nhảm nhí cứ văng vẳng bên tai, bịt mãi – chẳng lẽ con người phải nói nhiều đến thế khi ngồi với đám đông ? Không sao dõi tâm theo được, và có lẽ đã phải bỏ qua đôi ba chi tiết nhỏ, cực chẳng đã, đành chịu.

Nhớ đến lúc hồi đầu Hè, ở Hà Nội, vào Lespace thưởng thức điện ảnh chui vì vé chỉ có hai mà người thì tới ba, khỏi cần năng nỉ, chỉ một câu thảo mai nào đó cũng đủ để chiếm lấy một chỗ ngồi bên trong phòng chiếu. Khi đó, lạnh, lục đục chi mô những tiếng cười, xầm xì phía sau, đằng trước, những lời nói nhăng nhít nhảm nhí lại vang lên, và khó chịu. Có lẽ chỉ vì ‘Trăng nơi đáy giếng’ không phải là một phim để người ta ra rạp cùng với gia đình bạn bè bù khú mà nhâm nhi bắp rang - cười nói cho đã đời cái mỏ, cho no tròn con mắt. Đó là một phim mà theo tôi là rất cá nhân, rất điên, rất chậm, và đòi hỏi khán giả phải biến hóa theo nó, theo từng nhịp đóng – mở cửa (những tiếng cười to nhất là ở đây), theo từng sự biến chuyển tâm lý dù là nhỏ nhất trong nhân vật Hạnh, theo từng chuyển động máy khó chịu, quái chiêu, theo từng câu hát, từng cảnh một với sự dàn dựng đầy ngụ ý – mỉa mai mang nhiều hàm ý chính trị, theo từng nổi đau và hành trình tâm linh của Hạnh đến những giá trị ảo tưởng hiện diện xóa nhòa những giá trị thật đã bị đánh mất. Và, cả cái chất Huế lãng đãng đâu đó mà chẳng cần ngoại cảnh lắm điều tôn vinh. Mọi thứ hiện diện tinh tế, đẹp và buồn. Nguyễn Vinh Sơn (nhớ chăng bộ phim Đất phương nam) là đạo diễn.

Đấy là về Điện ảnh, với những thú vui nhỏ nhặt được tích góp qua những kinh nghiệm, những nếm trải qua nhiều lần thưởng thức, nhiều lần bị hút chặt vào nó, nhiều lần không thể nào cưỡng ra được. Ngọt có, bùi có, nhưng đó là một thế giới bao la, rộng lớn, và ảo diệu cực kỳ. Có điều, chúng đến với ta qua khoảng ngăn màn ảnh. Sự chung đụng chỉ có lẽ nằm ở bên trong, cảm xúc.

Thích nhất ở Sân khấu, là cái khoảng cách giữa người nghệ sĩ và khán giả nay gần hơn bao giờ hết, tưởng chừng có thể đụng lấy, có thể nhào đến ôm lấy tác phẩm, nơi những nhân vật hiện diện trong một bộ cánh mỏng manh, tay họ run run đón nhận những tình cảm, những tiếng vỗ tay vang vọng từ khán đài – hay có khi là những tiếng bĩu môi, la ó khó chịu. Tôi nghĩ, họ có phần dũng cảm khi dám đứng trên sân khấu, trình diễn tấn kịch của thiên hạ, hay có lẽ là của đời mình, không run sợ, chỉ bỏ hết sức lực, tấm thân, tấm lòng vào vai diễn. Đấy phải chăng là một sự dấn thân ?

Lại nói về vở kịch hôm nay, Nỏ thần. Một câu chuyện cũ kỹ được làm mới, được sân khấu hóa lên với những thêm thắt, những chỉnh đổi, bổ sung, nhằm tạo nên một lớp truyện mới dầy hơn, đậm hơn, sâu sắc hơn so với nguyên tác đã quá quen thuộc. Những vấn đề, những câu hỏi tràn đầy trong tâm trí khán giả. Liệu nó có đơn thuần chỉ là một sự đấu tranh thiện ác, hay sự đánh thức tham vọng chiếm hữu bên trong mỗi con người, hay những thứ chân lý, những hiện hữu nhập nhằng giữa thực và giả, giữa tình yêu và lý trí, giữa con người và con người, giữa bề trái và bề mặt, giữa nỗi đau cá nhân và nỗi đau nhân loại. Một bi kịch về con người.

Chúng ta phải đóng khố cho cẩn thận (kẻo tuột) khi giao tranh chiến trường. Nhưng còn chính chúng ta thì sao, có cần phải đóng khố cả tư tưởng, cả đầu óc, cả những ám ảnh vang vọng trong chúng ta. Vàng thật, cái tâm con người, vàng giả, những thỏi vàng lấp lánh ẩn mình trong túi áo.

Lẽ dĩ nhiên, cái bi kịch, cái mâu thuẫn được tạo ra và giải quyết như trong nguyên tác, với một kết thúc đầy tính bi tráng, cái chết kéo đến, ai cũng vơ lấy, đó là đất nước, đó là thứ tình yêu có lẽ quá đẹp đến nỗi huyễn hoặc và bị chìm dưới biển sâu, nơi bóng tối tràn đầy. Đất nước chìm trong máu. Nhưng, chính nỗi đau lại đó làm chúng ta phải nhớ, phải khắc sâu vào trong tim, đó không chỉ là hành trình tìm lấy cái tôi chân chính không hằn dục vọng - ám ảnh, hay hành trình cứu rỗi nỗi đau của nhân loại, mà còn là hành trình cứu lấy đất nước, giữ lấy non sông, nơi đó còn ánh mãi những ánh mặt trời, những giọt máu khô, những con người nước Nam bất khuất, khi chết vẫn đứng oai hùng.

Tiết tấu nhanh, kịch tính, xung đột hiện diện ngay trong từng lớp cảnh, xen lẫn là những cảnh yêu đương, khi nhẹ bẫng trong suốt, khi mâu thuẫn cao trào. Sự tĩnh lược tạo ra một khoảng cách khá xa trong nhịp độ câu chuyện. Vở kịch chia làm hai phần, khi mà sự tĩnh lược ấy tạo ra ở phần 1 một chút gì đó chắt lọc, lắng đọng, nâng tiết tấu nhanh hơn, hấp dẫn khán giả hơn thì ở phần 2, mọi thứ có vẻ hơi đuối, sự lộn xộn và hơi ẩu tạo ra những mảnh cảm xúc không rõ ràng, có phần chấp vá. Nhịp điệu bị đánh mất. Cùng với việc xuất hiện rất nhiều nhân vật cùng với tham vọng cá nhân hóa họ quá cao, khiến cho đất diễn không đồng đều, dễ nhớ mà cũng dễ quên. Tạo nên cái loãng, cái hẫng hụt khó chịu cho khán giả.

Nói về Dàn Dựng. Rõ ràng là đạo diễn đã khá chắc tay trong từng cảnh. Bố cục được phân bố theo tôi là làm hai loại : cân bằng – đối xứng và phi cân bằng – không đối xứng, được thấy qua những hành động, những diễn biến và chỗ đứng của nhân vật trong sân khấu hay là từ đạo cụ bày ra trên sàn diễn. Muốn hiểu rõ tác dụng thì ta phải lắng theo câu chuyện, với mâu thuẫn bên ngoài chủ yếu là giữa Thục Phán – nuớc Nam và Triệu Đà – xứ Bắc. Cân bằng một cách hết mực chỉn chu là trong những cảnh về nuớc Nam, biểu trưng cho một sức mạnh can trường, ngay thẳng. Phi cân bằng là những cảnh hiện diện xứ Bắc, những quốc sư hay quân lính Triệu Đà, thể hiện một sự gian trá, không ngay thẳng, tréo nghoe trong tâm, dùng những thủ đoạn đê tiện để chiếm hữu lấy nước Nam.

Khung cảnh được bày bố đơn giản, với những chiếc cầu thang xoắn vòng cung, đơn giản, đối xứng nhưng điều đó khiến sự tùy biến trở nên dễ dàng, và sự đa dạng là điều dễ dàng trông thấy. Khung cảnh là một công cụ tuyệt vời đồng bộ với câu chuyện, từ chiếc bóng nỏ thẩn thấm thoáng sau tấm màn nhung – sự bí mật cho đến cảnh sóng biển ào ạt – tâm người lay động.

Cái theo tôi là hay nhất trong vở kịch chính là cách sử dụng màu sắc. Màu sắc trong ánh sáng, và rõ ràng hơn là màu sắc trong phục trang nhân vật. Đấy là màu đỏ, thứ màu sắc mạnh mẽ, bạo liệt, vận vào lớp cảnh của Triệu Đà, của lão Quốc sư gian ác, của những tham vọng, mưu mô xấu xa thâm độc. Nó cũng được dùng để che dấu bí mật, bên trong tấm màn chứa nỏ thần, và tham vọng của lão Quốc sư để chiếm đoạt nó. Cảnh này rất hay, rất tuyệt, ánh sáng khi đó tắt dần cho đến khi cả sân khấu chỉ còn ánh đèn đỏ phía sau tấm màn in bóng nỏ, và màu đỏ trên phục trang của lão Quốc sư càng gần đến cái bí mật đó. Hồi hộp lắm cơ. Hiệu ứng thị giác mạnh mẽ cùng tiết tấu nhanh khiến cho cảnh đấy rất đắt. Đỏ cũng là màu của máu, của sa trường, của giấc mơ chiếm trọn bờ cõi nước Nam từ phía xứ Bắc. Và có lẽ cũng chẳng ai quên được lần đầu Triệu Đà xuất hiện, với tấm nhung đỏ lòm được đặt xiên đặt chéo, bản thân nó cũng mang nhiều hàm ý.

Màu vàng của Thục Phán, của những chàng trai xứ Nam, của dân tộc ta, của rồng vàng, của thần Kim Quy, của sự chân chính, của lẽ phải. Hay có lẽ đó là thứ vàng thật trong tâm đang bị lu mờ bởi thứ vàng vật chất giả tạo từ nơi Triệu Đà đấy sao ?

Màu trắng của sự tinh khiết, cùa sự trong trắng từ bên trong tâm hồn. Màu trắng hiện diện trong tấm áo choàng lông ngỗng Mỵ Chân vận, hay tấm áo của cô nàng công chúa xứ Bắc.

Và có cần phải tinh ý không mới thấy rằng, trang phục mà Mỵ Châu đang vận là sự hòa hợp giữa vàng, trắng và đỏ. Vàng – đỏ có lẽ là chỉ lên một thứ cầu nối giữa hai bề, Bắc Nam. Trắng, là sự tinh khiết, sáng trong.

Màu bạc lạnh lẽo, u mê.

Màu xanh tràn đầy trong những cảnh tình yêu. Là sự khát khao, sự hi vọng hòa hợp giữa hai ngã Bắc Nam, giữa hai thái cực trong tâm hồn, giữa mối tình của đôi lứa. Đấy là một thứ tình yêu của tuổi trẻ trong sáng, nơi chân trời chỉ tồn tại những giấc mơ, những cánh hạc vừa bay vừa kêu thảng thốt cho một mối tình buồn. Và sự giả dối có hiện diện nơi đây ? Giữa những thứ tình cảm ấy ?

Màu nâu đất bình dân, chất phác, đậm đà tính dân tộc nông nghiệp chính yếu.

Hết phần màu sắc, lại nói về ánh sáng. Đấy là một thứ tinh tế, sự tối giản được sử dụng khá nhuần nhuyễn tạo ra những đoạn chỉ còn hằn lại vết bóng nhân vật, sự kết hợp với những gam màu, tăng nhịp điệu, đẩy nhanh tiết tấu, tạo cảm xúc, gây ra những ấn tượng mạnh về mặt thị giác. Còn phải kể đến hiệu quả của âm nhạc, vốn được dùng để tạo tiết tấu. Sự đồng phối vị của nó với các hiệu ứng khác gia tăng hiệu quả chính là tạo cảm xúc cho khán giả.

Dĩ nhiên, trong Sân khấu, con người là quan trọng hơn cả. Diễn xuất tốt đấy, nhưng ấn tượng thì chỉ có một, là lão Quốc sư. Có lẽ như tôi đã nói, nhiều nhân vật xuất hiện cùng với tham vọng cá nhân hóa họ quá cao, khiến cho đất diễn không đồng đều, dễ nhớ mà cũng dễ quên. Cá tính rõ ràng, nhưng không được đẩy mạnh đến tột cùng, mà chỉ là những nét nhỏ nhắn, chưa là tinh tế, chỉ có thế nói là mang tính điểm xuyến nhiều hơn là lột tả.

Có lẽ chẳng cần những sự sắp đặt giả tạo tặng hoa cám ơn gì gì đó ở cuối CT cũng có thể biết rằng, vở kịch thành công trong lòng khán giả, và tuy vẫn còn đó những hạn chế nho nhỏ, nhưng với một đứa trẻ sống chưa tròn 17 năm cuộc đời, thì ‘Nỏ thần’ xứng đáng được lưu trữ đâu đó trong cái trí nhớ nhỏ bé và hữu hạn này.

Chủ Nhật, 31 tháng 10, 2010

For Q

Tôi gặp Q lần đầu ở Lít, trong một đêm trắng vĩ đại, dưới một màn chiếu cộng thêm một chiếc máy quay đĩa cũng vĩ đại không kém. Hôm đó chuyên đề điện ảnh tối thứ 6 – xem phim và bình phim, Rashomon của Kurosawa là tác phẩm mở đầu trong tháng, anh hì hục quanh cái laptop và loay hoay tìm kiếm một cái phụ đề thích hợp cho một phim Nhật thuyết minh tiếng Pháp. Rất lâu sau đó anh mới thành công, phũ phàng khi chấp nhận xem sub Anh, không sao, chả mống nào hiện hữu nơi đó giờ này ngoài những người quen thân thuộc, một vẻ gì đó khổ sở nhưng không buông thả hằn lên gương mặt anh. Tôi phải công nhận, ấn tượng đầu đó không hề đẹp, chỉ là một anh chàng gầy còm, tinh ranh, nhưng không rành rọt vi tính và công nghệ chi cả...

Phim cuối cùng cũng trót lọt, không có tiết mục bình phim, lặng lẽ ra về, tôi thấy anh cười, một nụ cười đểu giả, một nụ cười của những tên sở khanh, một nụ cười mà sau này nghe anh nói ‘vì nó mà tôi đã mất vài người bạn.’ Im lặng chờ Pip chở về, họ bàn bạc điều chi không biết. Quán đóng cửa. Đã hơn 10 giờ tối. Xe cộ chạy dữ. Gió thổi ngược.

Lần thứ hai là khi Lít chiếu The Hole của Thái Minh Lượng, một phim chậm rãi đến kinh sợ, một phim không có khán giả. Tồn đọng đây đó những tiếng thở dài rũ rượi và ngáp vặt liên hồi. Anh, rút mình vào trong một chiếc sôfa bành ki, một mình một cõi, chính diện màn ảnh rộng. Nhiều người không chịu nổi phim lần lượt ra về với một câu hỏi dạng trêu ngơi : “Ở đây chỉ chiếu những phim kiểu này thôi hử anh ?” . Tôi đồ rằng ‘sẽ không ai cười’.

Hết phim. Rất lâu sau đó đèn mới bật sáng, lác đác tiếng vỗ tay. Anh quay mình lại, vẫn với nụ cười đểu ấy, nay cộng thêm ánh mắt láo liên láo toét, hỏi hang khán giả với một thái độ ‘Đấy, tụi mày xem xong rồi đấy, nói cảm nghĩ đi’. Tôi ngồi im. Chie và Pip và một hai người khác lên tiếng. Rồi, anh nói một tràng, một tràng rất dài về ý nghĩa về subtext về âm nhạc này này nọ nọ, khiếp, tôi nghĩ bụng, thằng cha này xem được bao phim của Thái Minh Lượng rồi mà phán như thánh, cứ phong cách tác giả nì phong cách tác giả kia. Ghét thế không biết. Ấn tượng thứ hai là một kẻ vẫn tinh ranh nay còn thêm ba hoa khoác lác.

Đèo Chie về, chị nói, tại sao người ta cứ hay gán ghép ý nghĩa này nọ vào trong một tác phẩm, làm sao ta biết được, có lẽ họ chỉ thấy thích thú khi chơi đùa với nó đấy thôi. Ừ, cũng đúng nhỉ, nhưng không có sự gán ghép suy diễn đó thì làm sao có được một thứ thú vui tao nhã là bình phim kia chứ. Đúng hay sai, ai cần biết ? Ai chấm điểm tồi cho một ý tưởng lạ lẫm nào đó đâu, nếu có sự dẫn giải hợp tình hợp lý, chẳng cũng khoái ru ?

Lần thứ ba gặp Q là khi tôi rủ rê anh đi xem Chơi vơi ở BHD. Hết vé, thế là anh lại rủ rê mình ra Nhà Hát Thành Phố uống cafe. Bâng quơ sao đó mà một chai rượu nếp Hà Nội chiễm chệ thay thế hai cốc cafe đá trên chiếc ghế nhựa. Chưa say nhưng đã có những giờ phút nói chuyện thú vị. Anh không chán như tôi tưởng. Tôi biết anh sẽ là sinh viên năm cuối ĐH SKĐA TPHCM trong vài tháng kế tiếp.

Nhiều lần lêu bêu với anh sau đó, tôi biết rõ về anh hơn. Như một kẻ cuồng vĩ, một kẻ say mê triết học hiện sinh, một kẻ thích nói về ý nghĩa cuộc đời với giọng điệu chán ghét và phi lý, một kẻ có thể thao thao bất tận về Albert Camus với người hùng Sisyphus đẩy tảng đá lăn tròn lên đỉnh và sau đó lại rơi xuống, một kẻ triết lý cao siêu mang tầm vĩ mô vi mô đủ cả, một kẻ thích thú với những bộ phim phức tạp tầng tầng lớp lớp nghĩa của Bergman, những văn phạm điện ảnh trong Kurosawa và những tìm tòi đậm đặc chất thơ trong phim của Tarkovsky. Và là một kẻ ghét phim Vương Gia Vệ.

Anh đã từng nói, “Tôi sẽ chết khi tôi 35 tuổi.”

Anh đã từng nói, “Thế hệ già nua của những đạo diễn ‘gạo cội’ như NVS, như ĐNM đã phải chấm dứt. Bây giờ, những đạo diễn trẻ lên ngôi.”

Anh đã từng nói, “Điện ảnh Việt Nam vốn dĩ là một miếng thịt nửa nạc nữa mỡ, và khi phần nạc bắt đầu đung đầy, thì người ta như những con ruồi đu bám vào đó, tung hê thấu mây xanh mà quên rằng chúng ta chỉ mới bắt đầu, còn những chân trời khác xa xăm ngoài kia nữa đấy sao ?”

Đúng thế, còn những chân trời khác đó, ai bay ?

Một bộ phim như một con thuyền đu đưa ra khơi, chỉ bám vào những hòn đảo nhỏ, và lại nhờ sóng biển đẩy đưa tìm kiếm sự kêu gào của những con người xa xăm nhìn ngắm, có cần chi đích đến, có cần chi ảo tưởng, chỉ là một hành trình đi tìm lấy cội nguồn của chính mình. Chẳng cũng khoái ru ?

Trong một quán cafe ở gần đài truyền hình, trời lâm râm mưa, trước khi bưng vác cứu trợ đồng bào miền Trung, anh đưa tôi đĩa phim ‘Căn phòng’ , được Hội Điện Ảnh tài trợ, được trang trọng liệt kê một góc báo Tuổi trẻ như những cái tên đạo diễn trẻ sáng giá hiện nay.

Tấm bìa đen thui, không ấn tượng. Tôi hỏi , “Phim ma à ?” . Anh tủm tỉm.

Đến hôm nay mới có dịp thưởng thức trọn vẹn một phim dài gần 30 phút này.

Phim chật hẹp, không phải chỉ là trong bối cảnh, mà chật hẹp trong cả nhân vật. Một lão già có vẻ liệt giường, một cô gái có vẻ là một người hầu việc. Cô gái chăm sóc lão già, trong sự ân cần quá độ. Hai nhân vật rụt rè với nhau. Cô gái đọc thơ và những cuốc sách chất đầy trên giá cho lão già nghe. Đêm về, lôi cuốn nhật ký khi xưa của ông ra đọc. Cô tìm được sự đồng cảm nơi đó.

Quá khứ đã bay mất, đã quá độ, cũng như một cuộc sống của ông lão khi đó chỉ dựa vào bên trong một giấc mơ in màu đen trắng, với một vùng biển trời mênh mông, nơi ông lão tha hồ cựa quậy, tha hồ bơi tung tóe. Và rồi ông lại mở mắt, khi giấc mơ đã cạn. Cô gái cũng chìm mình vào trong những suy tư về quá khứ, nơi người chồng đã chết, hoặc có lẽ đang in dấu chân vào những vết nhan tàn của đời cô.

Hai người, tìm kiếm và hòa mình trong những nỗi lòng của riêng họ, với tâm cảm rằng cuộc đời là một thứ gì đó đã chết, và họ khát khao được sống trở lại bên trong mình.

Họ cô đơn, hẳng thế rồi. Họ là những con chim bay lạc vào mảnh vườn của riêng mình, bị giam cầm nơi thế giới đã quên đi họ.

Cuộc đời này là một chuyến đi qua biển

và chúng ta gặp nhau trong một chiếc thuyền con

khi chết là chúng ta đến bến

và mỗi người đi về nơi thế giới của mình.

-Tagore

Cô gái và ông lão gặp nhau trên một chiếc thuyền con, được hóa thân thành một căn phòng nhỏ nhắn treo một bức tranh nhỏ nhắn, với một chiếc ghế nhỏ nhắn cùng một lọ thuốc nhỏ nhắn, với những quyển sách và những bài thơ nhỏ nhắn. Đấy là thế giới của riêng họ.

Chúng ta có thể hiểu rằng, họ đã chết và họ muốn được sống.

Day dứt được dồn tụ lại trong cái giá sách đầy rẫy sự ẩn nấp của ông lão bên trong đó.

Vì thế, ông đã muốn đốt cháy mọi thứ.

Qúy muốn cho ta chìm dòng vào những suy tư của riêng anh, của riêng cuộc sống có là gì ngoài biển cạn, và ý nghĩa của nó chỉ vô tình trùng với sự mâu thuẫn của riêng anh, sinh ra để chết, nhưng họ lại muốn sống. Sự cô đơn đồng nghĩa với việc dãy nãy và u uẩn trong chốn của riêng mình.

Để hai tâm hồn đến gần nhau. Những cú quay cận bàn tay, tai, bàn chân, như một biện pháp tinh tế, tĩnh lặng nói lên tâm hồn hai nhân vật. Họ xa nhau lúc đầu kể cả trong ánh mắt, nhưng cuối cùng, sự đối diện với nhau (cô gái nhìn thẳng vào chúng ta đấy sao) gợi lên cho chúng ta một chút hi vọng dù xa xăm, rồi con người sẽ chẳng bao giờ chết cả nếu chúng ta còn nương tựa vào nhau mà bừng lên sự sống, có thể chăng. Quá khứ của cô gái đã đồng diện với hiện tại những đoạn cuối phim, và sau nữa, khi đó, ông lão muốn châm lên ngọn lửa đốt cháy đống sách của mình. Và Q tĩnh lược, anh quay nhào đến cái kết như một sự tréo nghoe, một vòng lặp vô tận cho những con người vô tận. Sống sót, là đi qua biển.

Máy quay bập bềnh như sóng, đôi lúc chuyển động thừa thãi, khoe khoang những khi góc máy lạ, phơi bày sự diễn khi đổi nét búa xua. Màu đẹp và tươi rói. Âm nhạc giúp câu chuyện thêm phần khó hiểu nhưng rất tình, rất thú, bắt đúng cảm xúc. Nó khoan thai như một điệu hò. Tiết tấu chả có gì ngoài một bài thơ, tuy chưa hoàn chỉnh vì đôi lúc lỡ nhịp. Vài cảnh mờ chồng hơi chán. Nhưng như tôi nói, những cảnh cận rất lí thú và tinh tế. Âu đó cũng là một thành công.

Hết phim. Tôi biết, anh đã quyết định bỏ hẳn năm cuối ở trường, dấn thân, lên đường, vì đi tìm một thứ điện ảnh đích thực.

Tôi không biết anh có thành công hay không ? Chả ai biết cả. Giờ anh đã 20, và còn 15 năm nữa trước khi anh chấm dứt cuộc đời.

Chẳng qua là một thứ cảm xúc nhăng nhố đang chất chồng trong đầu anh thôi, Q nhỉ ?

For Q, một đạo diễn tuổi 20, yêu dấu .

Thứ Hai, 25 tháng 10, 2010

25/10/2010

Mưa, nghe nói triều cường dâng cao. Nghe hết đống OST của Vương Gia Vệ. He he. Vui thế không biết.


Tôi chẳng nhớ ai cả.
cho xin một vé, họ nói
hết rồi, còn đâu.

Chủ Nhật, 24 tháng 10, 2010

xổ

Bật khóc
trong im lặng
giả dối tràn đầy
chẳng có gì ngoài lũ ruồi
bu bụi bặm bụi bặm
đường phố thấm tim đen
không màu
tim buồn
còn đường phố vốn dĩ buồn
lờ mờ
mờ mịt

không lạnh
một mùa duy nhất
duy tâm
.

nơi đó anh hôn em
sờ hơn soạng
và em đỏ môi
đen lưỡi
tròn cục đất
ngả vàng
.

nơi đó anh ngồi trắng
trời và đất
nhìn chân mây
nhìn cờ đổ rạp
nhìn quanh buồn
tanh mùi máu
.


nơi đó anh dòm mình ửng hồng
trong chiếc vô tuyến
ngập mùi đất
mùi than
mùi bụi
những thứ giả dối
vô tâm
.

liệu anh còn đang sống ?
vô tình hay đã quên mình đã chết
đang chết
.

bụi trắng chân trời
.

anh ngồi hát thầm một bài ca của My Dying Bride,
nơi đó, họ đã chết, trong những con chim quên cất tiếng hát, nơi dòng sông vô danh chìm lấp trái tim người.
và anh hát thế, trong say đắm loài người họ quên bản thân mình, trong hiện thực vô danh và đen đũi, trũi, lặng, mùi bụi đường cho thấm da thấm thịt, ngấn thịt đỏ hồng,
chìm trong lò vi sóng, tiếng kêu thét gào của nhà hàng xóm, và chiếc xích lô quay cuồng.
đêm trắng vĩ đại giữa ánh đèn Sài Gòn điếc, mưa Sài Gòn câm, và anh thì không còn giác quan nào nữa, phố xá vắng tên ai đó
không rõ. không cần rõ. chẳng cần hay. mây không ló dạng, vì trăng đã lên, mù người.
Chim xổ lồng.

Thứ Năm, 14 tháng 10, 2010

Lilac Wine

Có một năm anh chàng ấy dìm mình dưới đáy sông. Cả hai cha con đều chết trẻ, cái nỗi khốn cùng ấy bồi đấp cho cuộc đời những kẻ suy nhượt vì tài năng của chính mình.

Anh nghiện rượu, cái cơn say mèm trong men đẩy đưa trong những nỗi ám ảnh về chính bản thân mình. Anh rũ xuống mái tóc, trong cặp cánh thiên thần bên một bức tường xám, ảm đạm, ẩn dật.

Tôi đánh mất mình trong một đêm lạnh, ướt hơi men.
Tôi rũ bỏ mình trong một ánh sáng mờ, đèn sương phủ.

Và anh vẫn thế.
Nghìn đời sau vẫn thế.

Ai có lý, và ai có lực ?

Thứ Tư, 13 tháng 10, 2010

Dạo này thấy Q tự kỉ, hơi hướng giả dối chính mình.

Thứ Sáu, 24 tháng 9, 2010

Nghỉ một ngày

Đam mê, hay sự xa la.

Sáng dậy sớm chờ cuộc điện của Quý, chả thấy làm hài lòng khi nghe lấy cái giọng lè nhè chưa kịp thức của hắn ta. Tắm rửa, đi chợ - thấy người ta đang đốt một con rắn to tướng giữa đường, ăn uống, rồi đợi chờ. Thời gian cứ trôi mãi đến 8 giờ, tôi hỏi, không sợ trễ à.

Tôi đi học chùa mà ca cẩm lắm lời quá mức. Nắng đã lên. Đích đến : ĐHSKDA TPHCM, trên chiếc xe máy cà tàng của Quý, đội mũ bảo hiểu đỏ au, lắng nghe gió hát.

Uhm, thế mà hắn chạy cũng nhanh ra phết. Lòng vòng lòng vèo ra đến Cống Quỳnh, một tòa cao ốc ngự trị, mang danh một trường nghệ thuật, nhưng trơ trọi, hiện đại vô ngần, và buồn tẻ.

À, gặp Nguyễn Vinh Sơn, nhỏ bé, nhỏ nhẹ, tóc bạc râm, với đôi mắt luôn khép nhỏ, ít khi chớp. Thầy không đồ sộ hoành tráng như tôi đã nghĩ. Thầy giảng bài đều đặn, khó có thể nói là có sức mạnh, nhưng tâm huyết thì hẳng là có. Thầy có lẽ dể quen, nhưng khó gần và có lẽ khó đoán nữa. Có một cái bức tường ngăn cách giữa cái giọng nói nhỏ nhẹ ấy, ánh mắt ấy, dáng người đi lom khom ấy - đối với cái thế giới bên ngoài. Một vẻ cô độc cố hữu của người nghệ sĩ, khó ai lường được. Thầy thỉnh thoảng nhìn ra hư vô đâu đó để suy nghĩ, rồi chợt quên mất cái mà mình vừa giảng, rồi cười, cười như một đứa trẻ vừa vớ được món đồ chơi yêu thích.

Phòng bên cạnh, ông nhà báo Tô Hoàng oang oang nói, chiếu cho học sinh của mình xem một vài bộ phim tài liệu nào đấy. Ồn ào. Âm ỉ.

Trưa nắng. Vào căn tin trường uống nước, hai cốc cafe sữa đá to tổ bố hiện ra trong chốc lát. Nhấm nháp cùng vị Mal Đỏ nhạt nhòa. Chưa cảm thấy buồn nôn cho lắm.

Lâu lắm mới có một ngày nghĩ, giữa những ngày lắm điều và lộn xộn này.

23-9-2010

Thứ Tư, 22 tháng 9, 2010

Chie - chị

Nghe Velvet Underground vào một buổi chiều thẳng đứng, mùa thu - nắng nóng vô cùng. Đáng nhẽ ra là phải nghe Forever Autumn để đón lá vàng vào lòng, nhưng thiết nghĩ, lúc này nó sẽ càng làm mình thêm khó chịu. Thôi dầm dề với Lou Reed rồi Cat Power vậy.


Hôm đó đang ngồi với bác Goldmund, chị nhắn, Mưa trắng xóa, chị đi. Ừ thì chị đi. Mình nhắn lại. Cho em gửi lời thăm Hà Nội.

Hôm đó mưa quả dữ thiệt. Kẹt xe, phải lách lề mới đến nhà.


Mình nhớ lần đầu gặp chị, Hà Nội đầu tháng 6, ừ thì đó là ngày áp áp chót của cái hành trình dài dòng của mình. Dương cà rù cà rù phơi quần áo, rồi lèm bèm, ừ thì Chie hẹn đi cafe đâu đó. Hắn nhăng nhít một hồi. Ừ thì đi. Có cả chị Silk. Đó là một cái hồ lớn, trong long lanh, những cái tháp, cao ốc nhọn vít xa xa, lan bóng xuống hồ. Gió thổi mát. Chửi thề vì dẫm phải vũng bùn chèm nhẹp. Dương có vẻ xót ruột vì đống cước taxi phải trả. Hai người, bắt hai cái ghế nhựa đỏ lòm, kêu nước, và chờ.

Vẫn biết danh Chie qua những trang vụn vặt của 'tiểu thuyết nhăng nhít', nhưng không ngờ đến một Chie nhỏ nhắn đến vậy. Cô nàng có một gương mặt thanh tú, cặp chân mày mỏng manh như lụa và làn da bánh mật dễ gây sự chú ý từ xung quanh. Một người đi nhiều, biết nhiều, mạnh mẽ nhưng có lẽ cũng giòn tan, như những chiếc bánh gạo. Lạo xạo.

Mình không nói gì nhiều. Gió vẫn thổi. Và khói thuốc cứ bay, bay. Silk hút Esse. Chie không đụng đến.

Hôm sau, Chie và Silk rủ nhau đến căn trọ tồi tàn của Dương. Chiều tàn, nắng không len nổi ánh sáng vào trong. Sau một ngày quá mệt, mình và Dương ngoan ngoãn ngồi chờ món cơm gia đình được dọn ra. Cười đùa. Giỡn hớt. Tối ngồi bệt ở quán Trầm Thiền chi đó ở tuốt trong cái hẻm sâu gần trường SKDA HN. Không biết trời xui đất khiến ra sao mà khi đó ca sĩ toàn hát những bài có cái tên 'cuối'. Cuối. Cuối. Cuối. Làm mình buồn thúi ruột. Ngồi gần dàn nhạc sống thật thú vị, nghe rõ từng chi tiết một, này thì nhịp, này thì ót ét guitar, này thì thở dài. Ngồi đến tận hơn 10 giờ, có lẽ hơn. Nhấm nháp chai rượu tự pha chế của hai cô nàng, gật đầu khen ngon lia lịa. Vui biết mấy.

Hôm sau, mình về Sài Gòn.


Rất rất lâu sau đó, Chie đặt chân đến Sài Gòn. Đầu tháng Bảy, rồi sau đó nửa tháng, chị gọi mình. Đèo chị cực nhọc đến Sỏi đá. Và một entry mới ra đời. Rồi nhiều lần đèo chị nữa. Chân tay mỏi nhòa trong nắng.

Và rồi đầu tháng 9, chị nhắn tin, chị sắp ra Hà Nội. Vào một buổi chiều, mưa trắng xóa, trong khi mình ngồi với bác Goldmund, chị bay, giã từ Sài Gòn.

Hẹn ngày gặp lại.


Nghe Cat Power mà nhớ, nhớ lấy những thời kì mình không được trải qua. Lạ thật. Những thời kì Jazz hay Blues vang vọng khắp các quán xá, cổ kính, xập xệ. Mình liên tưởng đến một nơi đầy ánh đèn xanh xao, vàng vọt, chớp tắt liên hồi, người ta thổi saxophone, đập bass, và với những âm thanh riêng biệt, giọng hát cất lên, rồi đi vào hư vô, nơi nỗi nhớ ngự trị.

Thứ Tư, 15 tháng 9, 2010

vô tri

Tôi yêu những đêm không màu
Mắt trắng
vô tri trắng
buồn nôn trắng
Xà lang trắng
Lan can tắng
bút trắng
mực trắng
viết lên hiệu hữu trắng.

Tôi yêu mắt đèn mù
Nhìn mù
Yêu mù
Sống mù
Chết mù
Vui mù
Buồn mù
Cô đơn mù
Nhắm mắt mù
Mù từ buồng tim máu thịt.
Mù từ thăng thẳm nơi sâu.

Chẳng có cửa sổ nào mở
Mưa biến màu
Không thấy cầu vòng rơi
Chim hót tiếng câm
Người nói tiếng lặng
Im biền biệt.

Đen còn ? hiện hữu trắng. vâng vâng mù. Nhìn đời bịt. Sóng còn bạc, né người mù. Cát hồn nhiên, né người điên.

Tôi yêu những vùng trời đỏ màu máu, không nhờ mặt trời, không nhờ tinh tú , không nhờ sao băng hay chiến tranh lạnh giá. Chỉ cần chấm dứt. Cõi cỏ lau bờ bụi.

Tôi yêu tôi, vốn trắng, đen, mù và lặng.

Thứ Ba, 14 tháng 9, 2010

Cháy

Cấp cứu!
Cấp cứu!
Ô tô chẹt lá chết…
Một cặp đi ngang đường bẹt
Hãy để tôi đi tìm đêm trăng vườn quýt!
Điện thoại kêu thét
Con cốc đi xa
Chương ba tiểu thuyết
Hành trình!…
Hành trình!…
Không thấy sương bay thành vệt…

-Trần Dần-



8h tối. Phực. Cúp điện. Người ta la ó, cháy, cháy. Tôi giậc bắn mình, còn trong chân đôi vớ, xỏ vào đôi dép đứt quai rồi phi thân ra đường. Hiện trường hiện hữu : 2 chiếc xe cứu thương đỏ lòm - một chớp đèn đỏ, một chớp đèn trắng, nhấp nhô ; rất đông bà con dân chúng bu lại, những người dưng hiếu kì nhanh nhảu dựng xe bên lề đường, bay vào nghe ngóng.

Cháy, cháy, cháy, sự đáng sợ của lửa đã được chứng minh từ ngàn năm lâu dài. Nhưng, liệu phim ảnh sách báo văn hóa phẩm này nọ có đủ để cho chúng ta cảm nhận được, cái chết táp vào mặt là thế nào. Tôi run toàn thân, quên cả căn bệnh mề đay quái ác vừa mắc phải, chăm chăm lo lắng thế sự. Tự hỏi : Mẹ kiếp, nếu trời nổi gió. Chuyện gì sẽ sảy ra nữa ? Cái khoảng cách quá gẩn. Cháy lan tàn trên diện rộng ? Cháy qua cả nhà tôi ? Mẹ kiếp, chỉ cần trời trở gió, chỉ cần có thế.

Thời gian như đứng lại, chả còn ai biết đến đất trời đang vần vũ ra sao cả.

Khói tỏa, những gợn khói âm ỉ lan ra bầu trời tạo ra những đám mây lạt thếch hình ô van, nhìn xuống thiên hạ như muốn cười ha hả, hôm nay ta lấy được một mạng người. Một người đàn ông , chân tật, vướn lại trên lan can, sàn gỗ cùng khói đã hun ông về với Trời. 'Tam tai', đáng sợ và ai oán.

Khói vẫn mãi trôi, hết bị dập xuống rồi lại ráng ngóc đầu lên hùng dũng, cháy thêm nhà đằng sau nữa rồi, người ta nói. Mùi khét xen lẫn mùi ẩm và kín mít xộc lên mũi, khó chịu. Đường tắc, nguyên khu Hàng Xanh mờ mịt trong khói và bụi. Phường phiếc chạy đua đến nơi. Dân chúng sống lân cận đấy thì thi nhau chạy ra đường. Những người đi làm về mới hay hung tin vội vã bấm tí tách những con số điện thoại cho người thân, mồ hôi xen lẫn những giọt nước mắt chực chảy.

Đau. Những âm thanh đấy. Đau. Tiếng nước chảy của vòi rồng, tiếng lách cách của những chiếc thang cứu hộ tưởng chừng nhẹ bẫng, tiếng trẻ con khóc ở đâu đó, tiếng gầm của xe cộ, tiếng la ó của những người đang thực hiện nhiệm vụ. Rồi những ánh đèn vàng vọt, trắng xóa từ những chiếc đèn pin cỡ bự thượng hạng, chập choạng len qua khói. Hương vị cuộc đời như đang nằm cả bên trong chúng. Trộn lẫn, vo gạo, ồ oạp. Đắng. Rồi cay.

Mọi thứ vẫn quy củ trong sự hỗn độn của riêng nó.

Không khí vẫn ám mùi khói.

Cánh phóng viên đến, họ thi nhau ghi ghi chép chép. Một anh chàng thoáng đãng bưng máy quay phim vào tận nơi. Anh quay ra, chỉa ống kính vào những chiếc xe cứu thương im lìm. Vang ra đâu đó những tiếng cười, hả hê, hô hố, vồ vập.

Người ta bắt đầu mỏi chân và về. Tôi len lỏi vào trong. Một căn cháy vừa phải, một căn cháy trụi. Đồ đạc người ta vứt bày ra đường, sách vở, tủ giường, vvv. Gác gỗ. Người đàn ông chết trên đấy, nơi bóng tối khéo léo che đậy nỗi tan thương. Những người thân vô tìm kiếm, Sập đấy, Sập đấy. Họ la. Đừng vào. Kéo thằng đó ra đi. Kéo nó ra mau lên, chết bây giờ. Chết cả đám bây giờ.

Nghĩ dại, nếu chẳng may khói lan sang nhà tôi, tôi sẽ làm gì đầu tiên, lấy đi những thứ gì, và sự bình tĩnh chắc chắn là không còn. Trong cơn hoảng loạn, người ta thường dại dột. Khi đó, mọi giá trị đạo đức chắc sẽ hoàn toàn sụp đổ, người ta quay lại bạn chất của chính họ, cái thứ làm nên con người - sự sinh tồn. Dù gì đi nữa, trong những hoàn cảnh khó nói thế này, con người có cơ may bộc lộ rõ nhất được bản chất của mình. Đấy là điều đáng sợ nhất. Xem 'Chúa ruồi', hay cả những phim KD máu me dồn ép như Saw, ta thấy kinh tởm. Nhưng, có lẽ hiện thực còn bạo tàn hơn, kinh hãi hơn.

Song le...

Ý nghĩa của sự sinh tồn ? 8h. Một nhà cháy. 8h15, thêm một nhà cháy nữa. Mẹ nó. Ngắn cũn cỡn. Ngắn cũn cỡn. Lay lất như ngọn đèn trước gió. Chết, hay không chết ?

Cát bụi lại quay về cát bụi.

Hết giờ. Điện có. Mọi thứ vẫn còn hiện hữu và ám ảnh, mới thấy đây mà rồi đã không còn. Mới sum vầy mà rồi tang lễ. Thời gian vẫn là thứ làm đau lòng con người nhất, không tính đến những thứ bị xúy quẩy dính vào.

Hết cháy. Gió thổi buồn hiu.

Thứ Năm, 9 tháng 9, 2010

Mãi yêu cuộc đời ta thăng trầm trong máu.

Mãi yêu cuộc đời ta thăng trầm trong máu.

Hình như những chiếc đèn
ô van
đang kêu gọi
Những cơn gió tốc đầu mưa
đang van nài
đổi mới
những thứ đã gần tàn
sắp chết
Sau hão danh
là sự cô đơn chồng chéo.
Buồn vì người
hay những cánh ô xanh
hay đỏ
dù chập chững
hay lao xao
đang van nài
đổi mới.

Mãi yêu cuộc đời ta quên mình trong trắng

Mãi thấy xẩu hổ
Khi chăng những cánh hoa hình tam giác
lục bình trôi
bay trên Sài Gòn buổi tối
Ăn khổ
Căn khổ
Ổ rơm rạ
Đói nghèo
trong trắng
vẫn đỏ lòm
trong đau
mình cười
người khẩy
họ khóc ròng
dù tỉnh
hay say
ta quên mình
trong trắng.

mộng - trong mơ
Tỉnh trong đời
Phải chăng là sự đua đòi
giết chết ta ?
Giấc mơ nào gần với thực tế nhất ?
Ta nào biết.

Mãi yêu cuộc đời ta ngâm mình trong máu.

Ồ người điên đang đi lại
Bên bờ hồ
trong nước cờ
nhập nhòa sáng tối
Mặc áo mưa khi trời khô ráo
Săn bù nhìn
Làm tình
Phê phình phình
Phượt
Cười
Đánh thượt
Đường chim bay
Bao nhiêu kilômơ dây điện
Mắc kẹt
Mắc cạn
Chim lẻ loi
Chờ thời
chờ ngày
tung cánh
Ai hi sinh cho chúng ta ?

Khi không còn gì
để mất nữa ?

Mãi yêu cuộc đời ta thăng trầm trong máu.
Và cả nước mắt.
Chảy vào trong tim.
Khối óc đỏ
Lừng lững bầu trời.
Hư vô
Hão huyền.
Người ta bay
Qua những cây số đạn trời
Người ta về
Kéo dạt mưa bom.
Cái vỏ bọc
ì à ồ oạp vồ vập vỗ về
sẽ mãi chỉ là cái vỏ bọc
trong mắt nhau.
Tuôn chảy
Sổ lồng
Ta thét gầm
Đòi đời
không cạn.
Mùa oai linh
nước cạn
Nhưng mãi kẹt mà thôi.

song le..

Thứ Sáu, 27 tháng 8, 2010

Sự sợ hãi đến từ bóng tối. Anh luôn sợ hãi.

Tiếng náo động của một gian chợ, luôn trống vắn, luôn làm anh lạnh gáy.

Anh chẳng thấy gì cả.


Phòng ngủ. Vắng. Hẹp. Thời gian tối. Đèn không tắt.

Anh gập mình. Tiếng bước chân nghe rõ rệt. Mắt anh không màu.

Một đốm trắng lóa sáng, nơi tiềm thức hé lộ những gam màu đã chết, đã đi vào quá khứ. Anh biết.

Cô gái nói với anh :

_Anh còn đấy chứ ?

Một câu hỏi về sự tồn tại.

Anh gập mình. Tiếng làm tình nghe rõ rệt. Cô gái lách mình né tránh ánh nhìn của anh. Hay còn đó một ánh nhìn nào khác. Anh không cần biết. Cô không rõ.

Thở hổn hển, anh trùm lên mọi thứ. Cô gái víu lấy tay anh. Anh bỏng rát. Sự dập dìu của những cánh buồm trôi. Cô cắn. Anh gấp rút. Sự dồn nén. Gam màu đỏ. Gam màu trắng. Lan tỏa.

Anh và cô nằm bất động một thời gian rất lâu. Anh không nói. Cô lặng im.

Cô gái nói với anh :

_Anh còn đấy chứ ?


Đường. Hẹp. Thời gian không rõ. Sau vài phút. Hay vài tiếng. Anh cần biết ?

Anh. Lộ liễu trong tiếng gió thở dài. Chúng đùa và làm duyên với anh. Anh phì cười. Đôi mắt trống rỗng. Nhìn vào hư không.

Tiếng xe cộ. Những ánh đèn vàng vọt. Những bọc ni lông bay. Chúng bay, cuộn thành những vòng tròn không mỏi.

Những vòng tròn. Hay những một phần tư của chúng.

Anh. Nhìn. Trời. Trong ánh mắt của đôi tai.

Mưa.


Nhà. Một mình.

Còn có ai ? Anh hỏi. Anh hỏi lần thứ hai. Rồi lần thứ 3. Rồi lần thứ 4. Rồi lần thứ n. Rồi lần thứ n + 1. Anh thở dài. Tiếng sóng. Màu trắng đã chết.

TV không màu. Tiếng chó sủa. Dây xích kéo lê, rồi dừng tại một cái lõm lồ của đất. Mưa âm vang. Mùi đất tanh. Xộc vào mũi.

Dị. Anh nắm cổ tay. Rỏ giọt. Mưa. Dột từ mái nhà. Không thủng. Chỉ có lổ thủng của anh.

Vòng tròn.


Một giấc mơ.

Trong đó, anh đang nằm giữa bãi biển. Đang nghe một bản nhạc của Ray Charles. Anh nhún nhảy. Anh thấy ánh mặt trời. Anh thấy. Bằng đôi mắt anh.

Đó là một cơn ác mộng. Phải chứ ?


Gam màu đen.

Hay là không màu. Anh không biết. Dù gì, sự nhận thức về màu sắc của anh đã tắt từ lâu. Làm thế nào để nói nó là màu đen khi anh không còn nhớ màu trắng là gì ?

Sự tồn tại. Nó làm anh day dứt.


Làm tình. Những cô gái xa lạ. Thơ dâng. Phối cảnh kỵ mã. Phép chiếu song song. Đừng dừng lại. Đừng dừng lại. Tiếng cô rên khe khẽ. Những ánh sáng lóe lên khắp nơi. Dĩ nhiên là anh không thấy.

Những điệu Jazz buồn của quá khứ.


Gió thổi.


Phòng tắm. Sàn trắng. Trơn bóng.

Lưỡi lam. Không mùi. Không màu. Không vị.

Va chạm.

Gam màu đỏ.

Gam màu trắng.

Gam màu đen.

Những gam màu ? Còn chỗ nào cho chúng ?


Thời gian lâu lắm. Người ta mới biết. Anh không mù, về mặt thị giác. Cái sự mù của anh như là một sự giao đãi giữa gam màu đen và trắng.

Sự tồn tại.


Có còn cô gái nào đến thăm anh trong cái đêm anh chọc thủng chính mình ?

Thứ Tư, 25 tháng 8, 2010

Trong suốt


Anh. Nhìn. Nơi vô định. Cầu bắc ngang qua con rạch đen, tanh mùi. Nắng thổi, gió bay.

Cô. Ngồi. Nơi sạch sẽ. Nhìn biển. Thở dài.

Họ cùng đi. Anh băng qua cầu. Cô băng đến bờ sóng vỗ. Tiếng gió. Tiếng sóng. Hòa hợp. Nắng thổi liên khu vực, điểm đến : sự chung đụng. Đồng cảm.

Anh. Nhìn. Cô.

Anh nhúc nhích sau khi đứng lặng. Cô thở ngắn sau khi thở dài.

Biển hát bài ca cuối cùng của loài người không còn đất sống.



Thứ ánh sáng nhập nhòa của hoàng hôn sắp tắt. Lặng mình, anh lê bước theo cô. Cô vén váy, gợi tình.

Anh theo cô. Ánh sáng : tóc cô.

Những vỏ ốc, gai mình. Nét tinh tế trong những cái rãnh. Biển, vươn mình, xung quanh đầy cỏ từ đại dương.

Ánh sáng. Tắt. Điểm đến : hư vô.

Anh lạc mất cô.


Một đêm. Dậy trong sự chập choạng của ánh đèn, anh nhấc mấy và gọi.

0

1

3

Và những hàng số chợt đến. Anh nghe thấy. Giọng nói. Sắc lẻm. Một người con gái. Không còn tuổi.

Anh chợt quặn mình. Những cơn sóng đánh vào đầu.

Anh cúp máy.

Anh lạc mất chính mình.


Đêm của sự không ngủ. Anh. Đi. Vận đồ trông giàu có. Một con chó chạy qua, bóng kéo dài. Hành lang đầy sự đau thương. Anh. Đi.

Anh. Chạy.

Cô nàng vận đồ đỏ, chờ anh đã lâu. Đồ đỏ, rồi không còn gì, trong suốt.

Những đường cong, chạy chầm chậm rồi rung bầng bật. Bộ ngực đầy đặn, với những sự kích thích từ trong tim. Nó thở bập bồng. Đánh nhịp.

Thịch.

Thịch.

Anh. Rờ vào những đường cong. Tê tái. Những con chim mòng biển kêu vang bóng tối. Tiếng sóng.

Anh. Nhớ. Cô.

Cô nàng trong suốt ưỡn mình theo từng nhịp mân mê. Ngọn lửa cháy bỏng của sự thèm khát.

Anh. Ẩm ướt. Sự chiếm hữu. Thở. Rên rỉ.

Những cái bóng trong đêm nhá nhem.

Anh. Lưỡi. Liếm vào rốn cô nàng trong suốt.

Nhờn. Bóng.

Những giọt nước chảy.


Nắng thổi, gió bay. Vốn sáng.

Cô nàng trong suốt. Hút thuốc. Khép kín, trong một tấm gương. Anh. Ngoài gương, nhìn những gợn khói nhả dài.

Anh. Nhớ. Cô.


Mọi sự yên ổn. Một bước ngoặt làm anh tỉnh giấc. Một con số. Địa chỉ, khắc lên miến gỗ có mùi ẩm. Mốc.

Anh. Tìm ra. Cô.

Không có chuông cửa. Chỉ có sự tĩnh lặng. Bập bồng trong không gian.

Con vẹt la ai oán. Anh không nói. Cô. Nhìn. Anh. Thở dài.

Sự chiếm hữu không còn trọn vẹn.

Anh. Trong suốt. Hút thuốc. Khép kín, trong một tấm gương. Cô. Ngoài gương, nhìn những gợn khói nhả dài.

Nó biến đổi.

Cô. Đi đến góc phòng. Đi qua tấm thảm đỏ. Đi đến chiếc giường. Con vẹt im lìm.

Anh. Trong suốt.

Cô. Trong suốt.

Sự hòa hợp trong âm vang của con vẹt. Những gợn khói nhả dài nơi vô định.


Tiếng gõ cữa. Ai đó.

Cô đi ra.

Con vẹt la ai oán.

Anh. Khóc.


Anh. Chiều hư vô. Đi lang thang bãi biển. Gió tắt, biển thở dài.

Anh nghe tiếng hát xa. Trong một vỏ sò, với những cái rãnh.

Anh. Một mình.

Một con chó chạy lại. Bóng anh trải dài.

Thứ Hai, 23 tháng 8, 2010

Chị

Chiều nay hẹn chị lúc 4g30. Mưa tầm tã, đạp xe từ 4g20 hụt hơi đến nơi. 4g40. Vẫn trễ. Để chị đội áo mưa ngồi chờ. Mình ướt chẳng sao, nhưng để chị ướt thì quả là tệ. Chưa kịp xin lỗi thì chị lôi cái DVD Amélie mình mua cho chị ở HN 3 tháng trước, cho ngay vào túi xách mình. Mình cười nhăn răng, chị cũng cười. Tranh thủ 30 phút trước khi vào học mình kéo chị ra một quán café cóc trước trường.

Mưa rơi lộp độp vào cái xô đỏ khổng lồ của bà chủ quán. Mình ướt nhẹp. Chị hỏi. Ăn vận vậy vô học luôn à ? Chị lại cười, lạ, với đôi mắt buồn.

Mình biết chị đã gần hơn một năm. Chỉ là do những thú vui tao nhã về âm nhạc mà hai người chung đụng.

Mình lẩm nhẩm một bài hát không nhớ tên của Coco Rosie.

Mưa vẫn rát.

Năm nay là năm 4 của chị ở ĐH Kiến trúc, cái trường xập xệ mưa ngập mắt cá ấy là nơi lần đầu mình gặp chị. Lần đầu nhìn vào đôi mắt buồn ấy, mình thẫn thờ. Chị và mình đi cafe dăm ba lần. Lần đầu ở một cái quán tăm tối, đèn cầy cũng thẫn thờ. Lần thứ hai ở đâu đó mà mình cũng chẳng nhớ. Dăm ba chỗ. Take. Rồi Lumineux. Rồi xa xăm. Rồi xa xăm.

Lần này gặp lại. Chị khác lắm. Nụ cườ nở hoài trên môi. Đôi mắt vẫn buồn và sâu đến lạ. Một chàng trai mới đủ để làm chị vui mà. Đúng không chị ?

Hãy mãi mãi vui nhé.

Vẫn nhớ những khi chị khủng hoảng. Trông kinh hoàng đến sợ. Chị chúi đầu vào những bản nhạc u ám từ những band nhạc xa lơ xa lắc bên tận Na Uy hay một xứ xở Bắc Âu nào đấy. Chị trưng lên cho mình những tấm hình darkroom, với những thứ ánh sáng quá dị.

Ngồi như một mình với điếu thuốc cháy dài, chờ mưa tạnh, chờ những ánh đèn ru ngủ.

Có lần chị hỏi mình. Ra Hà Nội nhé ? Mình nói đi bộ chị nhỉ. Có hơn nghìn cây thôi mà. Ừ thì cũng được. Giảm béo tốt đấy. Đi xong chắc chết giữa đường. Mà khi chết nhìn hơi đúi, không được mũm mĩm.

Mình cười riết. Sẵn dịp bò ra sàn lau nhà một thể, chị nhỉ ?

Đôi lúc mình thấy chị thật lạ. Ôi dào. Chị cũng hơn mình tận 5 tuổi.

Chị nói chi thích nghe Indie, bịp kín lỗ tai và phóng với một tốc độ cao nhất trên con đường về Biên Hòa.

Chị cũng thích xem phim. Mình cho chị mượn cả đống. Trong đống đó, không biết có phim nào đồng cảm được với mình không.

Chị khuyên nhủ mình nhiều thứ khi có vài lần mình lỡ than vãn với chị.

Đôi lúc chị giúp mình vững lòng hơn.

Dù đôi lúc chị khiến mình thấy yếu đuối trước mọi sự quá đỗi rộng lớn này.

Và mình vẫn chán mình vì đôi lúc mình nghiện được nói chuyện với chị. Thức đêm chờ chị.

Dù gì đi chăng nữa. Mình vẫn yêu nụ cười cùng đôi mắt buồn ấy. Mình nhớ đã có lần làm thơ về nó, cho chị, tặng chị.

Đôi mắt


Thôi từ nay ta bỏ
Nỗi lạnh gáy
Bập bùng

Trong bóng đêm
Tôi mơ thấy đôi mắt ấy
Nồng nàn
Một con thuyền vàng
Chìm trong giấc mộng
Với những đồng tiền không bao giờ được tìm thấy.

Con ngựa trắng
Trong bãi cỏ
Nằm thơ thẩn
Thở dài
Tôi nghĩ là tôi biết
Tôi luôn biết
Nó nghĩ gì.

Tôi thấy bầu trời
Tôi thấy biển
Với đường chân trời thẳng tắp
Và đỏ chói
Những vệt máu
Và nước mắt cuối cùng
Cho một ngày
Với những ánh dương lấp lánh
Những đồng tiền
Không bao giờ được tìm thấy.

Nó nghĩ gì ?
Tôi luôn biết.

Tôi thấy một dòng sông trong đôi mắt ấy
Tôi quay đầu lại
Bỏ đi
Và con sông tan vỡ.

Nhưng
Tôi
Sẽ quay lại
Vì thời gian là mọi thứ
Tôi sẽ là thuyền
Điều hiêu trong bao kiếp người
Tìm kiếm những đồng tiền
Không bao giờ được tìm thấy.

Đôi mắt 2

Đôi mắt ấy
Dìm sâu trong dục vọng

Nhờ đôi mắt ấy
Tôi tìm ra được chính mình
Với nỗi u uẩn chiều muôn thuở
Với bao niềm nhớ nỗi sum vầy
Với bao khúc ca chìm trong gió
Với bao nhiệt huyết tuổi mùa xuân
Đã chết ....

Xuân đương đến nghĩa là xuân đương qua
Còn tôi thì sẽ già
Chìm trong dục vọng nơi đôi mắt ấy
Chìm trong tình buồn nơi đôi mắt ấy.

Nhớ lại những chiều đã qua
Những ngày sẽ đến

Những tàn đông sắp khép đời da diết
Những tàn xuân u uẩn khúc mai tàn
Những tàn thu quanh quảnh đời mưa gió
Những tàn ngày nắng biết nhớ nhung ai ?

Chìm trong sầu đời nơi đôi mắt ấy
Vì hạt giống sẽ đâm chồi nảy lộc
Vì ngày mai sẽ đến
Vì cuộc đời sẽ quay tròn trong bão lửa
Còn lửa thì thử vàng.

Chủ nhật còn buồn còn lê thê hơn nữa
Mảnh tình còn dài còn xa xăm hơn nữa.

Vài chén rượu mừng vui.

Tất cả những linh hồn còn nhảy múa trên cõi đời
Theo tôi nhé.

Cái liếc ngược trong tan tóc
Cái liếc ngược trong hành trình cô độc
Cái liếc ngược trong tàn đông đen đúa
Cái liếc ngược bay hoài mảnh tình xưa.

Làm tôi hãi hùng và dìm trong máu
Máu của những ngày mưa không dứt
Của những ngày tàn đời
Của những phút giây chờ chết.

Đôi mắt ấy xoáy sâu từng ngõ hẻm
Trong lòng tôi ....

Rồi mưa cũng tạnh. Mình lại bắt đầu tìm kiến những đồng tiền chưa bao giờ được tìm thấy.

Thứ Bảy, 21 tháng 8, 2010

Nghìn năm đợi

Có một thoáng nằm bên chiều
Gửi người
Cầu gỗ
Nhớ một tí buồn mênh mang
Gửi nàng
Đỏm đáng
Trái tim đi xa
Người nhỏ bé
Gần gũi
Một mình
thoáng cầu bay.

Tôi đang đi
Ngỡ mình vội vã
Dấu hiệu
thủ đô
đè trong nghìn năm ngủ.
Mắt xanh
Chững chạc
Mơ mình tương lai

Chập chững
Nghìn năm đợi.
Ru mình
Trong mê say nghìn tuổi
Khó thở
Lửa cuốn
Tắt rồng
Bay.

Thứ Ba, 17 tháng 8, 2010

Ngày xưa.

Hôm nay mình lại gặp bạn, trùm trên người một cái áo khoác dày cui đỏ lòm. Bạn lên tiếng mình mới nhận ra.

Bạn hỏi mình còn nhớ bạn không ? Còn không ? Chắc còn. Bạn hỏi mình còn giữ số điện thoại cũ không. Ừ thì. Số nào ấy nhỉ ? Bạn lấy điện thoại ra bấm bấm. Uhm. Nhớ rồi. Số đó đúng đấy.

Nắng làm bạn kéo mũ trùm che lấp khuôn mặt, chỉ lộ ra một mái tóc chải khôn khéo. Bạn vẫn nhỏ nhắn như ngày xưa.

Ngày xưa Hoàng thị

Mình buồn cười. Trưa đã nắng chan chan, gắt gỏng mà bạn còn vận vào mình màu đỏ. Bạn vẫn còn cái nụ cười ấy. Giọng cười ấy. Nghe giòn tan. Lạo xạo. Như tiếng bánh vỡ.

Và mình lại nói. Bâng quơ. Chỉ bâng quơ, cho ra khỏi đám đông này. Cho ra khỏi sự nhốn nháo, sự rề rà, sự bỡn cợt này. Mình lại hỏi. Bâng quơ.

Bạn lại cười. Mình lại chẳng còn nhớ đến việc cái mồm mình đang phát ra những âm thanh gì nữa. Chỉ còn lại quá khứ.

Bạn một thời là thứ động lực duy nhất khiến mình đi học. Những năm cuối cấp 2 chán òm, vô vị với những thứ bài tập chán nản - Toán Văn Anh - từ những ông thầy bà giáo mặt nhăn nhó hù dọa đủ trò. Cuối cấp. Lũ bạn nhảy nhót, quậy đùa. Sắp tự do rồi. Sắp tự do rồi. Giải phóng khỏi sự áp bức. Mình cười hề hà. Ngồi cạnh bạn, thế là vui rồi. Cần gì trông chờ đến thời khắc hạnh phúc đó. Thực ra không hạnh phúc lắm. Vì xa trường, là xa bạn, là xa khỏi cái xứ nhốn nháo đó. Xa khỏi cái mớ càn xiên đó. Xa khỏi mọi thứ đã từng âm thầm nhuốm máu trong tim.

Nghe mà bấn loạn. Bạn là lớp trưởng. Không cao ngạo, mà thực ra rất âm thầm, âm thầm chịu nhịn cái nỗi đau vớ va vớ vẩn mà bạn cày ra. Những vết sẹo mà bạn tự gieo lên cánh tay, những vệt nước mắt tự thân vận động chảy xuống bàn. Mình không giúp gì được. Bạn có vẻ may mắn vì khi đó, ai cũng nháo nhào cho bạn, mình thì không. Mình để bạn một mình.

Có những lúc mình thấy thật vui. Những thứ vui nhỏ nhặt. Như khi ai đó kéo mình ra đâu đó ngồi, bạn kéo mình lại. Như khi bạn nhìn quanh quẩn như kiếm tìm mình. Như khi bạn rủ mình đi chung đến một nơi nào đó. Như khi bạn tâm tình với mình một câu chuyện buồn nào đó. Như khi bạn lắng nghe mình chia sẻ một thứ gì đó.

Rồi một thoáng, điều đó mất đi. Đôi lúc bạn vô tâm với mình. Đôi lúc bạn chả còn nhớ mình là ai. Chỉ còn lại những vết cắt, những nỗi đau vớ va vớ vẩn. Một mình bạn, một cõi bạn, với con dao rọc giấy hay cây compa sẵn sàng trên tay.

Bạn cười. Nụ cười lạo xạo. Thêm một vẻ ngây thơ. Đôi mắt trong trẻo. Như in dấu vào cuộc đời bất cứ ai lỡ đi ngang qua bạn.

Rồi đến sự chán, rồi đến sự nhạt nhòa.

Và rồi mọi thứ đều chấm dứt.

3 năm.

Và rồi trưa nay mình lại gặp bạn. Cùng trường. Chả bao giờ gặp nhau. Bạn học chiều, mình học sáng. Đi ngang qua nhau, cũng chỉ bâng quơ. Bâng quơ.

Và nó chỉ còn là một hạt nước còn tồn động trong cái kí ức chỗ trồi chỗ sụt này.

Bạn đứng chờ một người bạn khác. Mình đi trước. Nắng, từng hạt một, từng hạt một, sự vương vấn. Đọng lại.

Ừ thì tạm biệt, người bạn cũ.